Lãi kép là gì?

Lãi kép là phương thức tính lãi trong đó lãi mỗi kỳ được nhập vào gốc, để kỳ sau tính lãi trên cả gốc lẫn lãi đã tích lũy, khiến số tiền tăng theo cấp số nhân với số kỳ.

Lãi kép (compound interest) là phương thức tính lãi trong đó cuối mỗi kỳ, tiền lãi được nhập vào vốn gốc và kỳ tiếp theo tính lãi trên cả phần gốc đã phình to này. Giáo trình Ross-Westerfield-Jordan gọi cơ chế đó là "interest on interest" - lãi sinh ra từ lãi; dân gian Việt Nam gọi là "lãi mẹ đẻ lãi con". Khác với lãi đơn tăng tuyến tính theo thời gian, giá trị khoản tiền tính theo lãi kép tăng theo cấp số nhân với số kỳ ghép lãi.

Lãi kép tồn tại vì tiền có giá trị theo thời gian: một đồng nhận hôm nay có thể tái đầu tư để sinh lời ngay, nên lãi đã nhận cũng phải được tính là vốn sinh lời. Đây là nền tảng của hầu hết phép toán tài chính - chiết khấu dòng tiền, định giá trái phiếu, quy đổi lãi suất giữa các kỳ hạn, tính lợi suất tích lũy của danh mục.

Người dùng khái niệm này gồm cả hai phía: người gửi tiết kiệm tái tục và nhà đầu tư dài hạn hưởng lợi từ cơ chế tích lũy; người vay chịu mặt trái khi lãi chưa trả bị cộng dồn vào dư nợ; chuyên viên phân tích dùng nó làm ngôn ngữ chung để so sánh mọi mức lãi suất. Lưu ý: không phải sản phẩm nào cũng vận hành theo lãi kép - tiền gửi ngân hàng tại Việt Nam trong một kỳ hạn được tính theo lãi đơn trên số dư thực tế.

Công thức

FV=PV×(1+r)nGhép lãi m lần/năm: FV=PV×(1+rm)m-nEAR=(1+rm)m−1
Dạng văn bản (sao chép)

FV = PV × (1 + r)^n Ghép lãi m lần mỗi năm: FV = PV × (1 + r/m)^(m × n) Lãi suất hiệu dụng năm: EAR = (1 + r/m)^m − 1 So sánh với lãi đơn: FV_đơn = PV × (1 + r × n) Quy tắc 72: số năm để vốn gấp đôi ≈ 72 / lãi suất (%/năm)

PV là giá trị hiện tại (vốn gốc ban đầu); FV là giá trị tương lai sau n kỳ; r là lãi suất một kỳ viết dạng thập phân (10%/năm → 0,1); n là số kỳ ghép lãi; m là số lần ghép lãi trong một năm (ghép tháng m = 12, ghép quý m = 4). Quy ước bắt buộc: r và n phải cùng đơn vị thời gian với kỳ ghép lãi - ghép theo tháng thì dùng lãi suất tháng và đếm n bằng tháng. Khi lãi suất niêm yết theo năm nhưng ghép theo kỳ ngắn hơn, lãi suất mỗi kỳ là r/m (r ở đây là lãi suất danh nghĩa năm). EAR quy mọi phương án về một con số theo năm để so sánh được với nhau bất kể kỳ ghép.

Cách đọc

Áp dụng theo ba bước: (1) xác định kỳ ghép lãi thật của sản phẩm - không suy ra từ cách niêm yết; (2) quy lãi suất về đúng kỳ ghép trước khi thay vào công thức; (3) khi so sánh hai phương án khác kỳ ghép, quy cả hai về lãi suất hiệu dụng năm (EAR) rồi mới so. Cùng lãi suất danh nghĩa, ghép càng dày EAR càng cao: 12%/năm ghép theo năm cho đúng 12%, ghép theo quý cho khoảng 12,55%, ghép theo tháng cho khoảng 12,68%. Đọc kết quả theo trục thời gian: chênh lệch giữa lãi kép và lãi đơn không đáng kể ở vài kỳ đầu nhưng phình to dần - với 10%/năm, sau 30 năm lãi kép cho hơn 17 lần vốn gốc trong khi lãi đơn chỉ cho 4 lần. Muốn nhẩm nhanh thời gian gấp đôi vốn, dùng Quy tắc 72: lấy 72 chia cho lãi suất %/năm (8%/năm → khoảng 9 năm).

Lãi suất 12 tháng phù hợp khoản 100 triệu đồng

Lãi suất tiết kiệm 12 tháng cao nhất đang niêm yết theo ngân hàng
Ngân hàng%/nămHiệu lựcĐiều kiện áp dụng
Cake by VPBank7,410/04/2026Trực tuyến - Lãi cuối kỳ
VPBank7,130/09/2026Tại quầy - Bậc tiền: <1 tỷ
Public Bank730/09/2026Trực tuyến - Sản phẩm: VND Tiền gửi kỳ hạn trực tuyến (%/năm)
OCB6,830/09/2026Trực tuyến - Sản phẩm: ONLINE SAVING
SAIGONBANK6,718/06/2026Tại quầy - Sản phẩm: Trả lãi cuối kỳ (%/năm)
CIMB6,630/09/2026Tại quầy
BAOVIET Bank6,530/09/2026Tại quầy - Sản phẩm: Lãi suất lĩnh lãi cuối kỳ (%/năm)
Hong Leong Bank6,530/09/2026Tại quầy

Nguồn: biểu công bố của từng ngân hàng - mở bảng lãi suất và điều kiện áp dụng

Sai lầm thường gặp

  • Tưởng sổ tiết kiệm ngân hàng tự động sinh lãi kép. Theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN, trong một kỳ hạn tiền gửi được tính lãi trên số dư thực tế với năm 365 ngày - tức lãi đơn. Lãi chỉ nhập gốc khi đáo hạn và tái tục; mỗi lần tái tục mới là một lần ghép lãi.
  • Khi tái tục, đinh ninh vẫn hưởng lãi suất cũ. Kỳ tái tục áp lãi suất ngân hàng niêm yết tại thời điểm tái tục, có thể thấp hơn đáng kể mức khi mở sổ - chuỗi lãi kép thực tế vì vậy không phải một mức r cố định.
  • Trộn đơn vị thời gian: lấy lãi suất %/năm nhưng đếm n bằng tháng (hoặc ngược lại) khi bấm công thức, cho kết quả sai lệch rất xa. r và n phải cùng đơn vị với kỳ ghép lãi.
  • So sánh sản phẩm bằng lãi suất danh nghĩa mà bỏ qua kỳ ghép lãi. 12%/năm ghép tháng và 12%/năm ghép năm là hai mức sinh lời khác nhau; muốn so đúng phải quy cả hai về EAR.
  • Tin các minh họa "sức mạnh lãi kép" gắn với lợi suất cao cố định 20-30%/năm trong lời chào mời đầu tư, gói bảo hiểm liên kết hay mô hình huy động vốn đa cấp. Lãi kép chỉ là phép toán, không phải bảo đảm lợi suất; lợi suất cao đều đặn kéo dài nhiều năm là dấu hiệu bất thường cần kiểm chứng.
  • Dùng Quy tắc 72 như công thức chính xác. Nó là phép xấp xỉ, cho kết quả gần đúng nhất ở vùng lãi suất khoảng 5-10%/năm; lãi suất càng xa vùng này sai số càng lớn.
  • Chỉ nhìn lãi kép ở chiều gửi tiền mà quên chiều đi vay: để dư nợ kéo dài (nhất là thẻ tín dụng chỉ trả mức tối thiểu), phần lãi cộng dồn khiến tổng nợ tăng nhanh theo cùng cơ chế cấp số nhân.

Đặc thù Việt Nam

Bối cảnh Việt Nam: phương pháp tính lãi tiền gửi và cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng do Thông tư 14/2017/TT-NHNN quy định - lãi tính trên số dư thực tế, một năm 365 ngày, thời hạn tính lãi chọn một trong hai cách (bỏ ngày đầu tính ngày cuối, hoặc tính ngày đầu bỏ ngày cuối) và tổ chức tín dụng phải minh bạch phương pháp tính lãi với khách hàng trước khi giao dịch. Hệ quả thực tế cho người gửi tiết kiệm: trong một kỳ hạn là lãi đơn; chuỗi lãi kép chỉ hình thành qua các lần tái tục nhập lãi vào gốc, và mỗi kỳ tái tục áp lãi suất niêm yết tại thời điểm đó. Vì vậy khi minh họa lãi kép cho tiền gửi, giả định \"một mức lãi suất cố định suốt nhiều năm\" chỉ là giả định tính toán, không phải cam kết của ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

Lãi kép khác lãi đơn ở điểm nào?

Lãi đơn chỉ tính lãi trên vốn gốc ban đầu: FV = PV(1 + r×n), tiền tăng tuyến tính theo thời gian. Lãi kép nhập lãi vào gốc sau mỗi kỳ: FV = PV(1+r)^n, tiền tăng theo cấp số nhân. Cùng một lãi suất, thời gian càng dài chênh lệch giữa hai cách càng lớn - vài kỳ đầu gần như không thấy khác biệt, hàng chục năm thì cách biệt nhiều lần.

Gửi tiết kiệm ngân hàng ở Việt Nam có phải lãi kép không?

Trong một kỳ hạn thì không: theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN, lãi tiền gửi tính trên số dư thực tế với năm 365 ngày - là lãi đơn. Lãi kép chỉ xuất hiện khi đáo hạn và tái tục cả gốc lẫn lãi: mỗi lần tái tục, lãi kỳ trước nhập vào gốc và trở thành một "kỳ ghép lãi". Lãi suất của kỳ tái tục là mức niêm yết tại thời điểm đó, không phải mức khi mở sổ.

Quy tắc 72 là gì và chính xác đến đâu?

Quy tắc 72 là cách nhẩm thời gian để vốn gấp đôi theo lãi kép: lấy 72 chia cho lãi suất %/năm. Ví dụ lãi suất 6%/năm cho khoảng 12 năm, 8%/năm cho khoảng 9 năm. Đây là phép xấp xỉ được nêu trong giáo trình Ross-Westerfield-Jordan, cho kết quả sát nhất ở vùng lãi suất khoảng 5-10%/năm; lãi suất rất cao hoặc rất thấp thì sai số tăng lên, cần tính bằng công thức đầy đủ.

Kỳ ghép lãi (tháng, quý, năm) làm thay đổi kết quả bao nhiêu?

Cùng lãi suất danh nghĩa, ghép càng dày kết quả càng cao vì lãi được nhập gốc sớm hơn. Với 12%/năm: ghép theo năm cho đúng 12%; ghép theo quý cho (1 + 0,03)^4 − 1 ≈ 12,55%; ghép theo tháng cho (1 + 0,01)^12 − 1 ≈ 12,68%. Chênh lệch mỗi năm không lớn nhưng tích lũy dần theo thời gian, nên khi so sánh sản phẩm phải quy về lãi suất hiệu dụng năm (EAR) thay vì so lãi suất niêm yết.

Nguồn tham khảo

  • Ross, Westerfield, Jordan - Fundamentals of Corporate Finance (McGraw-Hill Education) - Chương 5 "Introduction to Valuation: The Time Value of Money": định nghĩa lãi kép là interest on interest, công thức FV = PV(1+r)^t và Quy tắc 72 (thời gian gấp đôi ≈ 72/i với i là lãi suất %). Chương 6 "Discounted Cash Flow Valuation": kỳ ghép lãi và lãi suất hiệu dụng năm EAR = (1 + APR/m)^m − 1. Ấn bản gần đây: 13th edition.
  • Thông tư 14/2017/TT-NHNN - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - "Quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng". Ban hành 29/09/2017, hiệu lực 01/01/2018, còn hiệu lực (đã kiểm tra 08/2026); thay thế Quyết định 652/2001/QĐ-NHNN. Điều 4: một năm tính lãi là 365 ngày, lãi tính trên số dư thực tế; Điều 5: số tiền lãi ngày = số dư thực tế × lãi suất tính lãi / 365 - cơ sở của nhận định tiền gửi trong một kỳ hạn tại Việt Nam tính theo lãi đơn.
Nội dung tham khảo; công thức và nguồn được nêu trong từng mục. Không phải khuyến nghị đầu tư.
Lãi kép là gì? - taichinh.com