Biên độ lãi suất cho vay là gì?

Biên độ lãi suất cho vay (lending margin, còn gọi là spread) là phần cộng thêm tính bằng điểm phần trăm mỗi năm mà tổ chức tín dụng cộng vào lãi suất cơ sở để ra lãi suất thả nổi của một khoản vay; hợp đồng thường thỏa thuận giữ nguyên phần cộng thêm này trong suốt thời hạn vay, trong khi lãi suất cơ sở thay đổi theo từng kỳ điều chỉnh.

Lãi suất thả nổi của một khoản vay không phải là một con số duy nhất mà là tổng của hai mảnh có bản chất khác hẳn nhau. Mảnh thứ nhất là lãi suất cơ sở (còn gọi là lãi suất tham chiếu): một mức lãi suất do ngân hàng công bố hoặc lấy từ biểu lãi suất tiền gửi của chính ngân hàng, thay đổi theo mặt bằng lãi suất thị trường và chính sách nguồn vốn từng thời kỳ, áp dụng chung cho mọi khoản vay cùng loại. Mảnh thứ hai là biên độ: một con số riêng của từng hợp đồng, phản ánh mức định giá rủi ro tín dụng của hồ sơ đó cộng chi phí vận hành và phần lợi nhuận kỳ vọng mà ngân hàng đặt ra cho khoản vay. Đứng ở góc nhìn người vay, mảnh thứ nhất là điều kiện thị trường phải chấp nhận, mảnh thứ hai là điều khoản hợp đồng của riêng mình.

Cấu trúc tách đôi này tồn tại vì một lý do kỹ thuật của hoạt động ngân hàng: ngân hàng huy động vốn chủ yếu ở kỳ hạn ngắn nhưng cho vay mua nhà, vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm ở kỳ hạn 10–25 năm. Nếu phải chốt cứng một mức lãi suất cho toàn bộ thời hạn, ngân hàng buộc phải cộng thêm một phần bù cho rủi ro mặt bằng lãi suất biến động trong hàng chục năm, và mức lãi suất chào ban đầu sẽ cao hơn đáng kể. Tách biên độ khỏi lãi suất cơ sở cho phép chuyển rủi ro biến động mặt bằng sang người vay, đồng thời giữ lại phần định giá rủi ro tín dụng riêng cho từng hồ sơ. Đây cũng là lý do một con số thô kiểu "lãi suất 7,5%/năm" không nói được gì về khoản vay: nó chỉ mô tả một thời điểm, còn cặp (định nghĩa lãi suất cơ sở, biên độ) mới mô tả được toàn bộ thời hạn còn lại.

Người vay dùng biên độ để so sánh các khoản vay dài hạn giữa những ngân hàng khác nhau ở phần thời gian chiếm đại đa số thời hạn vay, tức giai đoạn sau khi hết ưu đãi. Ngân hàng dùng biên độ làm công cụ định giá theo hồ sơ: cùng một sản phẩm vay mua nhà, hai khách hàng có tỷ lệ vay trên giá trị tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng và chứng minh thu nhập khác nhau thường nhận hai mức biên độ khác nhau. Giới hạn quan trọng của chỉ tiêu này là nó không tự đứng một mình: biên độ 3,5 điểm phần trăm cộng vào "lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả lãi cuối kỳ dành cho khách hàng cá nhân" và biên độ 3,5 điểm phần trăm cộng vào "lãi suất cơ sở do ngân hàng công bố trong từng thời kỳ" là hai điều khoản không so sánh trực tiếp được, dù con số biên độ trùng nhau.

Công thức

Lãi suất cho vay thả nổi = Lãi suất cơ sở + Biên độ Trong đó: Biên độ = Lãi suất cho vay thả nổi − Lãi suất cơ sở, hai vế lấy tại cùng một thời điểm xác định lãi suất. Cấu trúc hai giai đoạn thường gặp trong hợp đồng vay dài hạn, với T là độ dài kỳ ưu đãi: Giai đoạn ưu đãi (tháng thứ 1 đến tháng thứ T): Lãi suất = Lãi suất ưu đãi cố định theo hợp đồng Giai đoạn thả nổi (từ tháng thứ T+1 trở đi): Lãi suất tại kỳ điều chỉnh k = Lãi suất cơ sở công bố tại ngày xác định của kỳ k + Biên độ Trường hợp hợp đồng có điều khoản sàn lãi suất sau ưu đãi: Lãi suất áp dụng = mức cao hơn giữa (Lãi suất cơ sở + Biên độ) và mức sàn ghi trong hợp đồng. Tiền lãi một kỳ = Dư nợ gốc thực tế trong kỳ × Lãi suất năm áp dụng × Số ngày trong kỳ / 365 (một năm quy ước 365 ngày theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN). Ví dụ minh họa chạy qua hai giai đoạn (số liệu giả định): vay 2.000.000.000 đồng, thời hạn 20 năm; kỳ ưu đãi 24 tháng với lãi suất ưu đãi 6,5%/năm; sau ưu đãi áp công thức lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng trả lãi cuối kỳ của chính ngân hàng cộng biên độ 3,5 điểm phần trăm, kỳ điều chỉnh 3 tháng. Sang tháng thứ 25, mức cơ sở tại ngày xác định là 5,0%/năm, lãi suất thả nổi = 5,0% + 3,5% = 8,5%/năm. Kỳ tính lãi 30 ngày với dư nợ 1.900.000.000 đồng: Tiền lãi = 1.900.000.000 × 8,5% × 30/365 ≈ 13.273.973 đồng. Ba tháng sau, nếu mức cơ sở công bố còn 4,6%/năm thì lãi suất kỳ kế tiếp là 4,6% + 3,5% = 8,1%/năm — biên độ giữ nguyên, chỉ mảnh cơ sở thay đổi.

Lãi suất cơ sở là thành phần cần đọc kỹ nhất vì không có định nghĩa thống nhất giữa các ngân hàng Việt Nam. Trên thị trường trong nước tồn tại ba họ định nghĩa. Họ thứ nhất neo vào biểu lãi suất tiền gửi của chính ngân hàng: hợp đồng ghi rõ kỳ hạn tham chiếu (thường là 12, 13 hoặc 24 tháng), loại khách hàng (cá nhân hay tổ chức), hình thức trả lãi (cuối kỳ hay định kỳ) và biểu công bố nào được dùng. Họ thứ hai là "lãi suất cơ sở" hoặc "lãi suất tiết kiệm điều chỉnh" do chính ngân hàng ấn định và công bố theo từng nhóm sản phẩm, không trùng với bất kỳ mức lãi suất tiền gửi nào đang niêm yết. Họ thứ ba lấy bình quân một rổ ngân hàng do hợp đồng liệt kê. Hệ quả thực tế của việc chọn họ nào rất khác nhau: với họ thứ nhất, người vay đối chiếu được mức mà ngân hàng áp dụng với biểu lãi suất tiền gửi mà tổ chức tín dụng phải niêm yết công khai theo Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15; với họ thứ hai, người vay khó đối chiếu con số ngân hàng đưa ra với một mức niêm yết độc lập nào — chỉ đối chiếu được với chính lịch sử công bố lãi suất cơ sở của ngân hàng đó qua các kỳ.

Biên độ được ghi trong hợp đồng bằng điểm phần trăm mỗi năm, ví dụ "biên độ 3,5%/năm" nghĩa là cộng thêm 3,5 điểm phần trăm vào lãi suất cơ sở, không phải nhân lãi suất cơ sở với 1,035. Biên độ "cố định" ở đây là cố định theo cam kết trong hợp đồng, không phải do pháp luật ấn định, nên phải kiểm tra hợp đồng có điều khoản nào cho phép tổ chức tín dụng thay đổi biên độ hay không. Một số hợp đồng vay dài hạn còn có điều khoản sàn lãi suất sau ưu đãi, dạng "lãi suất sau ưu đãi không thấp hơn X%/năm": khi có sàn, lãi suất áp dụng là mức cao hơn giữa tổng (lãi suất cơ sở + biên độ) và mức sàn, nên ở pha mặt bằng lãi suất xuống thấp, công thức cộng biên độ không còn là thứ quyết định con số thực trả. Điều khoản này phải được tìm cùng lúc với định nghĩa lãi suất cơ sở và mức biên độ.

Kỳ điều chỉnh và ngày xác định lãi suất là hai tham số quyết định con số thực tế phải trả. Kỳ điều chỉnh phổ biến là 1, 3, 6 hoặc 12 tháng; ngày xác định là mốc mà lãi suất cơ sở được chốt cho kỳ đó. Cùng một biên độ, kỳ điều chỉnh 3 tháng và kỳ điều chỉnh 12 tháng cho hai chuỗi lãi suất khác nhau khi mặt bằng đang chuyển hướng. Công thức tiền lãi tính theo dư nợ thực tế với một năm quy ước 365 ngày thực hiện theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước, 29/09/2017, hiệu lực từ 01/01/2018).

Nguồn số liệu nằm ở điều khoản lãi suất trong hợp đồng tín dụng và các phụ lục kèm theo, không nằm ở tờ rơi hay bảng chào lãi suất trên trang thông tin điện tử. Theo Điều 16 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp cho khách hàng, trước khi xác lập thỏa thuận cho vay, đầy đủ các thông tin gồm lãi suất cho vay; nguyên tắc và các yếu tố xác định, thời điểm xác định lãi suất cho vay đối với trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; phương pháp tính lãi tiền vay; loại phí và mức phí áp dụng đối với khoản vay.

Cách đọc

Một con số biên độ tách rời khỏi định nghĩa lãi suất cơ sở không mang thông tin. Cách đọc đúng gồm ba bước: xác định định nghĩa lãi suất cơ sở mà hợp đồng dùng, tra mức lãi suất cơ sở đó đang là bao nhiêu tại thời điểm hiện tại, rồi cộng biên độ để có lãi suất thả nổi ước tính nếu điều kiện thị trường giữ nguyên. Chỉ khi quy về cùng một thời điểm và cùng một cách hiểu về mảnh cơ sở thì hai khoản vay mới đặt cạnh nhau được. Một hợp đồng có biên độ 3,0 điểm phần trăm trên nền lãi suất cơ sở tự công bố hoàn toàn có thể cho lãi suất thả nổi cao hơn một hợp đồng biên độ 4,0 điểm phần trăm trên nền lãi suất tiết kiệm 12 tháng, tùy hai mức nền chênh nhau bao nhiêu.

Không có ngưỡng biên độ "hợp lý" phổ quát, vì mức biên độ bình thường khác nhau theo sản phẩm (vay mua nhà có tài sản bảo đảm, vay mua ô tô, vay tiêu dùng tín chấp, vay sản xuất kinh doanh), theo nhóm khách hàng và theo mức độ cạnh tranh của từng ngân hàng ở từng thời kỳ. Công thức thả nổi phổ biến trên thị trường trong nước là lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12, 13, 18 hoặc 24 tháng của chính ngân hàng — hoặc lãi suất cơ sở tự công bố — cộng biên độ; con số biên độ cụ thể do từng ngân hàng ấn định, khác nhau theo kỳ hạn tham chiếu và thay đổi theo thời kỳ, nên phải đọc từ hợp đồng hoặc công bố chính thức của ngân hàng tại thời điểm tra cứu, không suy ra từ mặt bằng chung hay từ ngân hàng khác.

Có những trường hợp con số nhìn đẹp lại là dấu hiệu cần xem kỹ hơn. Lãi suất ưu đãi rất thấp trong vài tháng đầu thường đi kèm biên độ cao hơn ở giai đoạn thả nổi, hoặc kỳ ưu đãi ngắn, hoặc phí trả nợ trước hạn cao trong nhiều năm — ba điều khoản này cùng quyết định tổng chi phí lãi, nên đọc riêng một trong ba dẫn đến kết luận sai. Với khoản vay 2 tỷ đồng kỳ hạn 20 năm trả gốc đều, kỳ ưu đãi 24 tháng chiếm 10% thời hạn nhưng chiếm khoảng 19% tổng tiền lãi cả vòng đời khoản vay, vì dư nợ ở các kỳ đầu là lớn nhất; với lịch trả góp niên kim, tỷ trọng vào khoảng 15%. Trọng số tiền lãi vì thế không trùng với trọng số thời gian, và cách so sánh đứng vững là tính tổng tiền lãi dự kiến của từng phương án trên toàn bộ thời hạn theo lịch trả nợ thực tế. Ngược lại, biên độ thấp bất thường so với mặt bằng cũng đáng đọc kỹ điều khoản kèm theo về điều kiện duy trì biên độ, chẳng hạn yêu cầu duy trì số dư, mua kèm sản phẩm hoặc chuyển lương qua ngân hàng.

Lãi suất cơ sở — phần biên độ cộng thêm vào các mức này

Mức các ngân hàng đang công bố, lấy từ biểu chính thức của chính họ. Mỗi ngân hàng đặt tên và chia nhóm theo cách riêng nên cột bên phải giữ nguyên văn cách gọi của từng nơi; đây là bảng đối chiếu, không phải bảng xếp hạng của những mức giống nhau.

Ngân hàng%/nămÁp dụng choGhi nhận
Techcombank12,5Lãi suất cơ sở chuẩn/Consumer Unsecured loans19/08/2026
HDBank9Lãi suất cơ sở dài hạn19/08/2026
HDBank9Lãi suất cơ sở trung hạn19/08/2026
Techcombank9LSCS dự án/ Real estate loans under the project19/08/2026
HDBank8,8Lãi suất cơ sở ngắn hạn19/08/2026
Techcombank8,8HKD/ Base rate of Household đảm của chủ hộ kinh doanh/ chủ cơ sở sản xuất kinh19/08/2026

Nguồn: biểu lãi suất công bố của từng ngân hàng. Lãi suất thực tế của một khoản vay còn phụ thuộc hồ sơ, tài sản bảo đảm và điều khoản hợp đồng.

Sai lầm thường gặp

  • So sánh các khoản vay dài hạn chỉ bằng lãi suất ưu đãi giai đoạn đầu. Hậu quả: chọn phương án có mức ưu đãi thấp nhất trong 6–24 tháng đầu mà bỏ qua biên độ áp lên phần thời hạn còn lại. Tính trên khoản vay 2.000.000.000 đồng, kỳ hạn 20 năm, trả gốc đều: mức ưu đãi thấp hơn 1 điểm phần trăm trong 12 tháng đầu tiết kiệm khoảng 19,5 triệu đồng, nhưng biên độ cao hơn 0,5 điểm phần trăm trong 228 tháng còn lại làm tăng tiền lãi khoảng 90,6 triệu đồng — phần thiệt gấp hơn bốn lần phần lợi. Chiều ngược lại cũng có thể xảy ra khi mức ưu đãi sâu và kỳ ưu đãi dài, nên kết luận chỉ rút ra được sau khi tính tổng tiền lãi của từng phương án trên toàn bộ thời hạn.
  • Coi lãi suất cơ sở và biên độ đều là những thứ có thể mặc cả như nhau. Hậu quả: người vay dồn công sức thương lượng vào mảnh không thương lượng được — lãi suất cơ sở là biểu áp dụng chung do ngân hàng công bố — và bỏ qua mảnh thực sự thuộc về hồ sơ của mình, tức biên độ, nơi hồ sơ tốt hơn có dư địa được chào mức thấp hơn.
  • Đọc hợp đồng chỉ tìm con số biên độ mà không tìm định nghĩa chính xác của lãi suất cơ sở, kỳ điều chỉnh, ngày xác định lãi suất và điều khoản sàn lãi suất sau ưu đãi nếu có. Hậu quả: khi ngân hàng thông báo mức lãi suất mới cho kỳ tiếp theo, người vay không có căn cứ nào để đối chiếu xem con số đó có đúng công thức đã ký hay không, và không có cơ sở để khiếu nại.
  • Hiểu "biên độ 3,5%" là nhân lãi suất cơ sở lên 3,5% thay vì cộng 3,5 điểm phần trăm. Hậu quả: ước tính lãi suất thả nổi thấp hơn thực tế rất nhiều — với lãi suất cơ sở 6,0%/năm, cách hiểu sai cho ra 6,21%/năm trong khi con số đúng là 9,5%/năm — dẫn đến lập kế hoạch trả nợ theo một dòng tiền không có thật.
  • Cho rằng khi ngân hàng công bố chương trình mới với biên độ thấp hơn thì khoản vay đang có sẽ tự động được áp mức mới. Hậu quả: người vay chờ một sự điều chỉnh tự động không xảy ra, trong khi biên độ đã ký chỉ thay đổi khi hai bên thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Hai lối đi còn lại trên thực tế là đề nghị ngân hàng điều chỉnh điều khoản, hoặc vay để trả nợ trước hạn khoản vay tại tổ chức tín dụng khác (thường gọi là chuyển khoản vay) — lối thứ hai kèm điều kiện và chi phí riêng, trong đó có phí trả nợ trước hạn của hợp đồng cũ.

Đặc thù Việt Nam

Điểm đặc thù lớn nhất của thị trường Việt Nam là sự bất đối xứng giữa hai vế của bảng cân đối ngân hàng. Với vế huy động, Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 96/2025/QH15; Điều 100 không thuộc phạm vi sửa đổi) quy định tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn cùng mức phí cung ứng dịch vụ — nên biểu lãi suất tiền gửi là dữ liệu công khai, thu thập và đối chiếu được. Với vế cho vay, cùng điều luật đó xác lập lãi suất và phí cấp tín dụng là nội dung thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, không thuộc diện bắt buộc niêm yết theo từng hồ sơ. Nghĩa vụ minh bạch với người vay vì thế nằm ở hai tầng: với từng khoản vay là khâu cung cấp thông tin trước khi ký hợp đồng theo Điều 16 Thông tư 39/2016/TT-NHNN; với mặt bằng chung, từ năm 2024, thực hiện Công điện số 18/CĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 05/03/2024) và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng công bố trên trang thông tin điện tử lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân cùng lãi suất các chương trình, gói tín dụng. Số bình quân cho phép so mặt bằng giữa các ngân hàng, nhưng không thay được các điều khoản cụ thể — lãi suất cơ sở, biên độ, kỳ điều chỉnh — của từng hợp đồng.

Hệ quả trực tiếp: Việt Nam chưa có một lãi suất tham chiếu công dùng chung cho vay bán lẻ theo kiểu SOFR hay EURIBOR. Mỗi ngân hàng tự định nghĩa lãi suất cơ sở của mình, có ngân hàng neo vào biểu lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12, 13 hoặc 24 tháng của chính mình, có ngân hàng công bố một mức riêng không trùng với bất kỳ mức tiền gửi nào đang niêm yết. Vì vậy biên độ của hai ngân hàng khác nhau là hai đại lượng đo trên hai gốc khác nhau và không xếp hạng trực tiếp được. Khi taichinh.com thu thập dữ liệu lãi suất cho vay, mỗi bản ghi biên độ phải đi kèm định nghĩa lãi suất cơ sở, kỳ điều chỉnh, sản phẩm vay, nhóm khách hàng và ngày hiệu lực; nếu thiếu định nghĩa cơ sở thì con số biên độ không đủ điều kiện đưa vào bảng so sánh.

Về trần lãi suất: quy định trần chỉ áp cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam thuộc các lĩnh vực ưu tiên nêu tại khoản 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, hiện ở mức 4,0%/năm với tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5,0%/năm với quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô theo Quyết định 1125/QĐ-NHNN ngày 16/06/2023. Trần này không áp cho vay mua nhà hay vay tiêu dùng dài hạn, nên ở mảng bán lẻ dài hạn không tồn tại giới hạn pháp lý nào đối với mức biên độ.

Mốc pháp lý cần theo dõi khi đọc hợp đồng: Thông tư 29/2026/TT-NHNN ban hành ngày 30/06/2026 sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN và có hiệu lực từ 15/08/2026. Thông tư này không sửa Điều 13 về lãi suất cho vay và Điều 16 về cung cấp thông tin — phần sửa đổi tập trung vào thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi, khoản vay giá trị nhỏ và hoạt động cho vay trong phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng — nên khung điều khoản lãi suất cơ sở cộng biên độ của các hợp đồng không thay đổi vì văn bản này. Theo điều khoản chuyển tiếp, các thỏa thuận cho vay và hợp đồng tín dụng ký trước ngày 15/08/2026 tiếp tục thực hiện theo nội dung đã ký phù hợp với quy định có hiệu lực tại thời điểm ký; phần nội dung được sửa đổi, bổ sung sau mốc này phải tuân theo thông tư mới. Khi đối chiếu điều khoản lãi suất của một hợp đồng cũ, cần xác định trước ngày ký để biết văn bản nào đang chi phối.

Câu hỏi thường gặp

Biên độ lãi suất có đàm phán được không, còn lãi suất cơ sở thì sao?

Biên độ là điều khoản thuộc về từng hợp đồng nên về nguyên tắc nằm trong phạm vi thỏa thuận giữa hai bên; Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 xác lập quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, còn Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN nêu rõ lãi suất cho vay được thỏa thuận theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng. Dư địa thực tế phụ thuộc tỷ lệ vay trên giá trị tài sản bảo đảm, chất lượng hồ sơ thu nhập, lịch sử tín dụng, nhóm khách hàng và mức độ cạnh tranh của ngân hàng ở thời điểm đó — không có gì bảo đảm sẽ được chấp thuận. Lãi suất cơ sở thì khác: trên thực tế đó là biểu áp dụng chung do ngân hàng công bố cho mọi khoản vay cùng loại, không đặt lại theo từng hồ sơ, nên dư địa thương lượng của người vay nằm ở biên độ.

Ngân hàng có được thay đổi biên độ giữa chừng không?

Biên độ giữ nguyên là cam kết trong hợp đồng chứ không phải quy định của pháp luật, nên câu trả lời nằm ở chính văn bản đã ký. Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN buộc hai bên phải thỏa thuận nguyên tắc, các yếu tố xác định lãi suất điều chỉnh và thời điểm điều chỉnh; nếu hợp đồng không có điều khoản cho phép tổ chức tín dụng đơn phương thay đổi biên độ thì việc thay đổi cần sự thỏa thuận. Thông tư này cũng quy định trường hợp căn cứ các yếu tố xác định lãi suất điều chỉnh dẫn đến có nhiều mức lãi suất cho vay khác nhau thì tổ chức tín dụng áp dụng mức lãi suất cho vay thấp nhất.

Trong hợp đồng cần tìm đủ những mảnh nào để biết mình sẽ trả bao nhiêu?

Ba mảnh, thiếu một mảnh là chưa đọc được khoản vay. Thứ nhất: mức lãi suất ưu đãi, ghi bằng phần trăm mỗi năm. Thứ hai: kỳ ưu đãi, gồm số tháng và mốc bắt đầu tính — có hợp đồng tính từ ngày giải ngân đầu tiên, có hợp đồng tính từ ngày ký. Thứ ba: công thức áp dụng sau ưu đãi, gồm định nghĩa chính xác của lãi suất cơ sở (kỳ hạn tham chiếu, loại khách hàng, hình thức trả lãi, biểu công bố nào), mức biên độ, kỳ điều chỉnh và ngày xác định lãi suất mỗi kỳ. Nên đọc kèm hai điều khoản nữa: sàn lãi suất sau ưu đãi nếu có — mức mà lãi suất thả nổi không xuống thấp hơn dù lãi suất cơ sở cộng biên độ cho ra con số nhỏ hơn — và phí trả nợ trước hạn, vì các điều khoản này cùng quyết định tổng chi phí lãi.

Biên độ bao nhiêu là hợp lý?

Không có mức chuẩn dùng chung, vì biên độ khác nhau theo sản phẩm vay, theo hồ sơ khách hàng và theo từng thời kỳ. Cách đánh giá dùng được là quy các phương án về cùng một thước đo: với mỗi ngân hàng, tra mức lãi suất cơ sở đúng theo định nghĩa hợp đồng của ngân hàng đó tại cùng một ngày, cộng biên độ để ra lãi suất thả nổi ước tính, rồi tính tổng tiền lãi dự kiến trên toàn bộ thời hạn theo lịch trả nợ thực tế. So sánh trực tiếp hai con số biên độ khi định nghĩa lãi suất cơ sở khác nhau sẽ cho kết luận sai.

Nguồn tham khảo

  • Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 (Quốc hội, thông qua 18/01/2024, hiệu lực từ 01/07/2024), được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 96/2025/QH15 (Quốc hội, thông qua 27/06/2025, hiệu lực từ 15/10/2025) — Điều 100 — Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng: tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ; tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng. Đây là căn cứ cho việc lãi suất cho vay là điều khoản thỏa thuận, khác với lãi suất huy động thuộc diện bắt buộc niêm yết. Luật số 96/2025/QH15 sửa đổi các quy định về cho vay đặc biệt và xử lý tài sản bảo đảm; Điều 100 không thuộc phạm vi sửa đổi nên nội dung dẫn giữ nguyên hiệu lực.
  • Thông tư 39/2016/TT-NHNN (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ban hành 30/12/2016) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng — Điều 13 — Lãi suất cho vay: tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận lãi suất theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng; trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh, hai bên phải thỏa thuận nguyên tắc và các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh cùng thời điểm điều chỉnh; nếu các yếu tố đó dẫn đến nhiều mức lãi suất khác nhau thì áp dụng mức thấp nhất. Điều 16 — Cung cấp thông tin: trước khi xác lập thỏa thuận cho vay, tổ chức tín dụng phải cung cấp đầy đủ cho khách hàng lãi suất cho vay; nguyên tắc, các yếu tố xác định và thời điểm xác định lãi suất đối với lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất với dư nợ gốc quá hạn; lãi suất với lãi chậm trả; phương pháp tính lãi; loại phí và mức phí.
  • Thông tư 29/2026/TT-NHNN (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ban hành 30/06/2026, hiệu lực từ 15/08/2026) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39/2016/TT-NHNN — Văn bản sửa đổi mới nhất của khung pháp lý về hoạt động cho vay. Phạm vi sửa đổi tập trung vào thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi (khoản 4 Điều 18), quy định về khoản vay giá trị nhỏ và hoạt động cho vay trong phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng; không sửa Điều 13 về lãi suất cho vay và Điều 16 về cung cấp thông tin. Điều khoản chuyển tiếp: các thỏa thuận cho vay, hợp đồng tín dụng ký kết trước ngày 15/08/2026 tiếp tục thực hiện theo nội dung đã ký phù hợp với quy định có hiệu lực tại thời điểm ký; nội dung sửa đổi, bổ sung sau mốc này phải tuân theo thông tư mới.
  • Thông tư 14/2017/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ban hành 29/09/2017, hiệu lực từ 01/01/2018) — Quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng: tiền lãi tính trên số dư thực tế và số ngày duy trì số dư thực tế, một năm quy ước 365 ngày — căn cứ của công thức tiền lãi từng kỳ nêu trong mục này.
  • Quyết định 1125/QĐ-NHNN (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ban hành 16/06/2023, hiệu lực từ 19/06/2023) — Mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng vay phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo khoản 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN: 4,0%/năm với tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5,0%/năm với quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô; thay thế Quyết định 576/QĐ-NHNN ngày 31/03/2023. Tại thời điểm biên soạn mục này, đây vẫn là mức trần hiện hành, chưa có quyết định thay thế.
Nội dung tham khảo; công thức và nguồn được nêu trong từng mục. Không phải khuyến nghị đầu tư.
Biên độ lãi suất cho vay là gì? — taichinh.com