Lãi suất tiết kiệm là gì?
Lãi suất tiết kiệm (savings deposit interest rate) là tỷ lệ phần trăm trên năm mà tổ chức tín dụng cam kết trả cho người gửi tiền trên số tiền gửi trong một kỳ hạn xác định; trên thực tế thị trường Việt Nam, mức này thường được niêm yết riêng theo từng kỳ hạn, từng kênh giao dịch và từng phương thức trả lãi.
Lãi suất tiết kiệm là giá mà một tổ chức tín dụng trả để được sử dụng tiền của người gửi trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận. Đứng ở góc nhìn người gửi, đó là tỷ suất sinh lời danh nghĩa của khoản tiền; đứng ở góc nhìn ngân hàng, đó là chi phí huy động vốn. Toàn bộ biểu lãi suất huy động công bố tại Việt Nam đều quy về đơn vị phần trăm trên năm, kể cả với kỳ hạn 1 tháng hay 3 tháng — mức 4,75%/năm cho kỳ hạn 3 tháng không có nghĩa là gửi ba tháng nhận thêm 4,75% số tiền gốc.
Quy ước %/năm tồn tại vì con số tiền lãi tuyệt đối không so sánh được: 1.000.000 đồng tiền lãi trên khoản gửi 50.000.000 đồng trong 3 tháng và 1.000.000 đồng trên khoản gửi 100.000.000 đồng trong 6 tháng là hai kết quả hoàn toàn khác nhau. Đưa về một tỷ lệ theo năm cho phép đặt cạnh nhau các khoản gửi khác số tiền, khác thời gian, khác ngân hàng. Nhưng phép quy đổi này cũng che đi bốn thứ mà người gửi thực sự nhận: kênh giao dịch (quầy hay trực tuyến), phương thức lĩnh lãi, số ngày gửi thực tế và điều kiện kèm theo. Vì vậy một con số %/năm đứng một mình chưa đủ để kết luận khoản nào trả nhiều tiền hơn.
Người gửi tiền dùng lãi suất tiết kiệm để chọn kỳ hạn và ngân hàng; doanh nghiệp dùng để quản lý tiền nhàn rỗi; nhà phân tích dùng mặt bằng lãi suất huy động làm chỉ báo về thanh khoản hệ thống ngân hàng và định hướng chính sách tiền tệ. Giới hạn của chỉ số này là tính so sánh: hai mức %/năm chỉ đặt cạnh nhau được khi cùng kỳ hạn, cùng kênh, cùng phương thức trả lãi, cùng bậc số tiền và cùng thời điểm niêm yết. Đây là lý do taichinh.com lưu kênh quầy và kênh trực tuyến thành hai bản ghi riêng biệt thay vì gộp chung.
Công thức
Tiền lãi = Σ (Số dư thực tế × Số ngày duy trì số dư thực tế × Lãi suất tính lãi) / 365 Trường hợp gửi một lần, không rút trước hạn, lĩnh lãi cuối kỳ: Tiền lãi = Số tiền gửi × Lãi suất (%/năm) × Số ngày gửi thực tế / 365 Trong đó: một năm quy ước 365 ngày; lãi suất luôn quy đổi về %/năm. Lãi suất hiệu dụng năm khi tiền lãi được nhập gốc m lần trong năm: Lãi suất hiệu dụng = (1 + i / m)^m − 1 Trong đó: i là lãi suất niêm yết %/năm dưới dạng thập phân; m là số kỳ trả lãi trong năm (trả lãi hàng tháng m = 12, hàng quý m = 4, cuối kỳ đối với kỳ hạn 12 tháng m = 1).
Công thức gốc lấy theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước, 29/9/2017): tiền lãi cộng dồn theo từng ngày trên số dư thực tế, mẫu số là 365 ngày — quy ước này thay cho quy ước 360 ngày dùng trước ngày 01/01/2018, nên hai biểu tính cũ và mới cho kết quả lệch nhau khoảng 1,4%.
"Số dư thực tế" là số tiền còn nằm trên tài khoản tiền gửi tại từng ngày, không phải số tiền gửi ban đầu — khoản gửi có nộp thêm hoặc rút một phần phải tách thành nhiều đoạn số dư rồi cộng lại. "Số ngày gửi thực tế" đếm theo lịch, nên hai khoản cùng kỳ hạn 3 tháng nhưng rơi vào các tháng khác nhau có số ngày khác nhau (89, 90, 91 hay 92 ngày) và cho tiền lãi khác nhau dù cùng một mức %/năm. Riêng cách đếm điểm đầu và điểm cuối, Thông tư 14/2017/TT-NHNN cho phép tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng theo một trong hai cách: bỏ ngày đầu, tính ngày cuối; hoặc tính ngày đầu, bỏ ngày cuối — vì vậy con số tự đếm có thể lệch một ngày so với bảng tính của ngân hàng nếu không cùng quy ước. "Lãi suất tính lãi" là mức đã ghi trên sổ hoặc hợp đồng tiền gửi tại thời điểm gửi, không phải mức đang niêm yết tại thời điểm đáo hạn.
Bốn phương thức lĩnh lãi cho ra bốn kết quả khác nhau và các ngân hàng niêm yết mức %/năm riêng cho từng phương thức. Lĩnh lãi cuối kỳ: toàn bộ tiền lãi trả một lần khi đáo hạn, đây là biểu chuẩn và thường là mức cao nhất trong bốn phương thức. Lĩnh lãi hàng tháng hoặc hàng quý: tiền lãi trả thành nhiều lần trong kỳ hạn, ngân hàng thường niêm yết mức %/năm thấp hơn cuối kỳ để bù cho việc người gửi nhận tiền sớm hơn; tổng tiền lãi danh nghĩa vì thế thấp hơn, nhưng nếu người gửi tái đầu tư từng khoản lãi thì lãi suất hiệu dụng có thể bù lại một phần. Lĩnh lãi trước: toàn bộ tiền lãi trả ngay tại thời điểm gửi, mức %/năm niêm yết thấp nhất trong bốn phương thức vì phần lãi ứng trước tương đương một khoản chiết khấu — vốn thực tế người gửi bỏ ra bằng số tiền gửi trừ đi tiền lãi đã nhận.
Nguồn số liệu: biểu lãi suất huy động do từng tổ chức tín dụng công bố trên website và niêm yết tại điểm giao dịch. Một biểu đầy đủ phải xác định được năm chiều: kỳ hạn, kênh giao dịch (quầy hay trực tuyến), phương thức trả lãi, bậc số tiền gửi (một số ngân hàng chia bậc theo số dư) và ngày hiệu lực của biểu. Thiếu bất kỳ chiều nào thì con số không đủ để xếp hạng.
Cách đọc
Mức %/năm chỉ có nghĩa khi đọc kèm đủ điều kiện đi cùng. So sánh đúng là so cùng kỳ hạn, cùng kênh, cùng phương thức trả lãi, cùng bậc số tiền và cùng ngày niêm yết; đặt lãi suất trực tuyến của ngân hàng này cạnh lãi suất quầy của ngân hàng kia là phép so lệch điều kiện.
Hai kênh quầy và trực tuyến là hai mức giá khác nhau cho cùng một sản phẩm tại cùng một ngân hàng. Kênh trực tuyến thường được niêm yết cao hơn vì chi phí phục vụ thấp hơn và ngân hàng dùng chênh lệch này để dịch chuyển giao dịch khỏi quầy. Khoảng cách giữa hai kênh khác nhau theo từng ngân hàng và từng kỳ hạn, có ngân hàng để bằng nhau, có ngân hàng chênh vài phần mười điểm phần trăm — phải đọc từ biểu niêm yết tại thời điểm tra cứu, không suy ra từ thông lệ.
Kỳ hạn dưới 6 tháng và từ 6 tháng trở lên vận hành theo hai cơ chế khác nhau. Nhóm kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng bị chặn bởi trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, nên khi mặt bằng lãi suất căng thẳng, nhiều ngân hàng cùng niêm yết đúng mức trần và bảng xếp hạng ở nhóm này gần như phẳng — thứ hạng lúc đó ít mang thông tin. Toàn bộ khác biệt cạnh tranh dồn sang nhóm kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, nơi lãi suất do cung cầu vốn quyết định.
Một mức cao bất thường so với mặt bằng thường là dấu hiệu cần đọc kỹ điều kiện chứ không phải cơ hội tốt hơn: có thể là mức áp cho số dư tối thiểu rất lớn, mức của sản phẩm chứng chỉ tiền gửi thay vì tiền gửi tiết kiệm thông thường, hoặc mức áp cho một kỳ hạn dài đặc thù. Riêng nhóm kỳ hạn dưới 6 tháng, mức tối đa theo Thông tư 48/2024/TT-NHNN đã bao gồm cả các khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức, nên một mức vượt trần ở nhóm kỳ hạn này không thể giải thích bằng khuyến mại hợp lệ — cần kiểm tra lại kỳ hạn và loại sản phẩm trước khi đưa vào bất kỳ phép so sánh nào. Khi so lãi suất tiết kiệm với lạm phát, lấy mức %/năm trừ đi tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ để có ước lượng lãi suất thực — con số danh nghĩa tăng trong giai đoạn giá cả tăng nhanh hơn không đồng nghĩa sức mua của khoản tiền được cải thiện.
Lãi suất 12 tháng phù hợp khoản 100 triệu đồng
Mỗi ngân hàng lấy một mức đủ điều kiện cho khoản 100 triệu đồng theo dữ liệu hiện có. Ngày hiệu lực và điều kiện có thể khác nhau, được ghi theo từng dòng; đây không phải bảng so sánh tại một thời điểm hay một sản phẩm hoàn toàn đồng nhất.
| Ngân hàng | %/năm | Hiệu lực | Điều kiện bản ghi |
|---|---|---|---|
| Cake by VPBank | 7,4 | 10/04/2026 | Trực tuyến · Lãi cuối kỳ |
| OCB | 6,8 | 19/08/2026 | Trực tuyến · Sản phẩm: Tiết kiệm Online |
| SAIGONBANK | 6,7 | 18/06/2026 | Tại quầy · Sản phẩm: Trả lãi cuối kỳ (%/năm) |
| CIMB | 6,6 | 19/08/2026 | Tại quầy |
| Public Bank | 6,6 | 19/08/2026 | Trực tuyến · Sản phẩm: VND Tiền gửi tiết kiệm trực tuyến (%/năm) |
| BAOVIET Bank | 6,5 | 19/08/2026 | Tại quầy · Sản phẩm: Lãi suất lĩnh lãi cuối kỳ (%/năm) |
| Hong Leong Bank | 6,5 | 19/08/2026 | Tại quầy |
| MSB | 6,5 | 19/08/2026 | Sản phẩm: Hop dong tien gui |
Nguồn: biểu công bố của từng ngân hàng · mở bảng lãi suất và điều kiện áp dụng
Sai lầm thường gặp
- Lấy mức %/năm nhân thẳng vào số tiền gửi cho kỳ hạn ngắn hơn một năm. Gửi 100.000.000 đồng kỳ hạn 3 tháng ở mức 4,75%/năm, lĩnh lãi cuối kỳ, kỳ hạn rơi vào 92 ngày, tiền lãi tính theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN là 100.000.000 × 4,75% × 92 / 365 ≈ 1.197.000 đồng, không phải 4.750.000 đồng. Hiểu sai theo hướng này khiến người gửi lập kế hoạch chi tiêu trên một khoản tiền lớn gấp bốn lần thực tế.
- So mức lãi suất trực tuyến của ngân hàng này với mức tại quầy của ngân hàng kia rồi kết luận ngân hàng nào trả cao hơn. Vì cùng một ngân hàng có thể niêm yết hai mức khác nhau cho hai kênh, phép so lệch kênh có thể đảo ngược thứ hạng thật và dẫn người gửi tới một ngân hàng thực tế trả thấp hơn ở kênh họ định giao dịch.
- Chọn phương thức lĩnh lãi hàng tháng vì muốn nhận tiền sớm mà không kiểm tra mức %/năm niêm yết riêng cho phương thức đó. Ngân hàng thường công bố mức thấp hơn cho lĩnh lãi hàng tháng, hàng quý và lĩnh lãi trước so với lĩnh lãi cuối kỳ, nên tổng tiền lãi danh nghĩa của cùng một khoản gửi, cùng kỳ hạn, có thể thấp hơn khi chọn phương thức trả lãi định kỳ mà người gửi không nhận ra vì chỉ nhìn dòng lãi suất đầu tiên trên biểu.
- Coi tiền gửi có kỳ hạn như tài khoản rút được bất cứ lúc nào. Rút trước hạn toàn bộ thì theo Thông tư 04/2022/TT-NHNN, mức áp dụng tối đa bằng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất của chính tổ chức tín dụng đó tại thời điểm rút — đây là quy tắc trần, không phải một con số cố định. Lãi suất không kỳ hạn bị Quyết định 2411/QĐ-NHNN chặn ở mức tối đa 0,5%/năm, nhưng biểu thực tế của nhiều ngân hàng còn thấp hơn hẳn, phổ biến quanh 0,1–0,2%/năm. Với khoản gửi 12 tháng ở mức 6%/năm rút ở tháng thứ 11, nếu ngân hàng niêm yết lãi suất không kỳ hạn 0,1%/năm thì phần lãi cho toàn bộ thời gian đã gửi chỉ bằng khoảng một phần sáu mươi mức đã thỏa thuận.
- Nhầm mức lãi suất có điều kiện với mức áp dụng phổ thông. Các mức được quảng bá dưới dạng lãi suất đặc biệt hoặc lãi suất cho khách hàng ưu tiên thường gắn với số dư tối thiểu rất lớn hoặc thuộc sản phẩm không phải tiền gửi tiết kiệm thông thường, ví dụ chứng chỉ tiền gửi. Riêng kỳ hạn dưới 6 tháng, mức tối đa theo Thông tư 48/2024/TT-NHNN đã bao gồm cả các khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức, nên không tồn tại mức cộng thưởng hợp lệ đưa tổng lãi suất vượt trần ở nhóm này. Người gửi đối chiếu mức có điều kiện với biểu chuẩn của ngân hàng khác sẽ ra một bảng xếp hạng không dùng được.
Đặc thù Việt Nam
Khung pháp lý của lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam gồm bốn lớp. Thứ nhất, Thông tư 48/2024/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước, 30/9/2024, hiệu lực 20/11/2024) đặt nguyên tắc: kỳ hạn ngắn chịu mức tối đa do Thống đốc quyết định từng thời kỳ, kỳ hạn từ 6 tháng trở lên theo cung cầu vốn thị trường; mức tối đa bao gồm cả các khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức và áp cho phương thức trả lãi cuối kỳ, các phương thức trả lãi khác quy đổi về cuối kỳ. Thứ hai, Quyết định 2411/QĐ-NHNN (01/11/2024, hiệu lực 20/11/2024) ấn định các mức trần cụ thể đang áp dụng: 0,5%/năm với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,75%/năm với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,25%/năm với cùng nhóm kỳ hạn này tại quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô. Thứ ba, Thông tư 14/2017/TT-NHNN (29/9/2017, hiệu lực 01/01/2018) thống nhất phương pháp tính lãi với một năm quy ước 365 ngày. Thứ tư, Thông tư 04/2022/TT-NHNN (16/6/2022, hiệu lực 01/8/2022, đã được Thông tư 47/2024/TT-NHNN sửa đổi) quy định lãi suất rút trước hạn. Quy định về sản phẩm tiền gửi tiết kiệm — sổ tiết kiệm, tiền gửi tiết kiệm chung, các giao dịch nhận và chi trả — nằm ở Thông tư 48/2018/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, hiệu lực từ 05/7/2019, trong đó phương thức trả lãi do tổ chức tín dụng và người gửi tiền thỏa thuận.
Hai đặc thù thị trường cần lưu ý khi đọc số. Một là hiệu ứng trần: khi mặt bằng lãi suất căng, nhiều ngân hàng cùng niêm yết đúng 4,75%/năm ở các kỳ hạn 3–5 tháng, khiến bảng xếp hạng nhóm kỳ hạn ngắn gần như phẳng và không phân biệt được ngân hàng; toàn bộ khác biệt cạnh tranh dồn sang nhóm từ 6 tháng trở lên. Hai là phân tầng theo nhóm ngân hàng: nhóm ngân hàng thương mại do Nhà nước chi phối thường niêm yết thấp hơn đáng kể so với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân ở cùng kỳ hạn, nên trung bình đơn giản toàn thị trường là một con số ít ý nghĩa nếu không nêu rõ nhóm.
Về an toàn khoản gửi, số tiền bảo hiểm được trả tối đa cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm, gồm cả gốc và lãi, của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là 350.000.000 đồng, theo Thông tư 05/2026/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước, 31/3/2026, hiệu lực từ 13/7/2026) — hạn mức này thay cho mức 125.000.000 đồng áp dụng trước đó theo Quyết định 32/2021/QĐ-TTg. Hạn mức áp theo từng tổ chức, không phải theo từng sổ tiết kiệm, và nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm chỉ phát sinh khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản — đây là cơ chế xử lý tình huống đổ vỡ, không phải một khoản bảo đảm thường trực cho mọi giao dịch.
Lưu ý khi dùng dữ liệu lãi suất trên taichinh.com: mỗi bản ghi lãi suất được lưu kèm ngân hàng, kỳ hạn, kênh giao dịch, phương thức trả lãi, bậc số tiền (nếu ngân hàng có chia bậc) và ngày hiệu lực của biểu niêm yết. Kênh quầy và kênh trực tuyến là hai bản ghi tách biệt và không bao giờ được gộp khi xếp hạng, vì gộp hai kênh cho ra một thứ hạng không đúng với mức người gửi thực sự nhận được. Các sản phẩm chứng chỉ tiền gửi, các mức gắn điều kiện riêng và mức dành cho số dư rất lớn được đánh dấu riêng, không trộn vào biểu chuẩn. Lãi suất niêm yết là mức trước khi tính đến bất kỳ khoản phí giao dịch nào mà ngân hàng có thể áp dụng khi nộp hoặc rút tiền mặt ngoài địa bàn, và không đồng nhất với số tiền cuối cùng người gửi nhận được.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao cùng một ngân hàng, cùng kỳ hạn mà lãi suất gửi trực tuyến lại khác lãi suất tại quầy?
Vì đó là hai mức giá do ngân hàng chủ động niêm yết riêng cho hai kênh giao dịch. Chi phí phục vụ một khoản gửi qua ứng dụng hoặc ngân hàng điện tử thấp hơn qua quầy, và ngân hàng dùng chênh lệch lãi suất để khuyến khích người gửi chuyển sang kênh số. Không có quy định nào bắt hai kênh phải bằng nhau, cũng không có mức chênh lệch chuẩn: có ngân hàng để bằng nhau, có ngân hàng chênh vài phần mười điểm phần trăm và mức chênh còn thay đổi theo kỳ hạn. Khi tra cứu, cần xác định đúng kênh mình sẽ giao dịch trước khi so sánh giữa các ngân hàng.
Tiền lãi tiết kiệm có phải nộp thuế thu nhập cá nhân không?
Với cá nhân, lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng thuộc nhóm thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân. Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 (Quốc hội, 10/12/2025, hiệu lực từ 01/7/2026) tiếp tục giữ khoản miễn này. Với tổ chức và doanh nghiệp thì khác: lãi tiền gửi là thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, nên số tiền cuối cùng còn lại không bằng số tiền lãi ngân hàng trả.
Rút tiền gửi trước hạn thì mất bao nhiêu tiền lãi?
Theo Thông tư 04/2022/TT-NHNN, rút trước hạn toàn bộ thì mức áp dụng tối đa bằng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất của chính tổ chức tín dụng đó tại thời điểm rút, chứ không phải mức đã thỏa thuận khi gửi. Lãi suất không kỳ hạn bị chặn bởi trần 0,5%/năm, và biểu thực tế của nhiều ngân hàng còn thấp hơn, phổ biến quanh 0,1–0,2%/năm, nên phần chênh lệch so với mức đã thỏa thuận rất lớn — mức cụ thể phải đọc từ biểu lãi suất không kỳ hạn của chính ngân hàng đó. Nếu rút một phần, phần rút áp lãi suất không kỳ hạn còn phần để lại vẫn giữ lãi suất đang áp dụng — vì vậy khi chỉ cần một phần tiền, rút một phần giữ được nhiều tiền lãi hơn tất toán toàn bộ sổ.
Trần lãi suất tiền gửi là bao nhiêu, vì sao vẫn thấy ngân hàng niêm yết mức cao hơn nhiều?
Theo Quyết định 2411/QĐ-NHNN (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, 01/11/2024, hiệu lực từ 20/11/2024), mức tối đa với tiền gửi bằng đồng Việt Nam là 0,5%/năm cho không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng, 4,75%/năm cho kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, và 5,25%/năm cho cùng nhóm kỳ hạn này tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô. Trần chỉ áp cho các kỳ hạn ngắn đó; với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, tổ chức tín dụng tự ấn định lãi suất theo cung cầu vốn thị trường. Vì vậy các mức cao hơn trần trên biểu niêm yết thường thuộc nhóm kỳ hạn từ 6 tháng trở lên — nhóm không chịu trần. Nếu gặp một mức cao hơn trần gắn với kỳ hạn dưới 6 tháng, cần kiểm tra lại kỳ hạn và loại sản phẩm (ví dụ chứng chỉ tiền gửi) trước khi đưa vào so sánh.
Nguồn tham khảo
- Thông tư 48/2024/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 30/9/2024) — Quy định về việc áp dụng lãi suất đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; hiệu lực từ 20/11/2024. Nguyên tắc: tiền gửi không kỳ hạn, kỳ hạn dưới 1 tháng và kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng không vượt mức tối đa do Thống đốc quyết định từng thời kỳ; kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do tổ chức tín dụng ấn định theo cung cầu vốn thị trường. Mức tối đa bao gồm cả các khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức và áp dụng đối với phương thức trả lãi cuối kỳ; các phương thức trả lãi khác được quy đổi về phương thức trả lãi cuối kỳ.
- Quyết định 2411/QĐ-NHNN (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 01/11/2024) — Mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam, hiệu lực từ 20/11/2024 và vẫn là mức trần hiện hành tại thời điểm cập nhật mục này (19/08/2026): 0,5%/năm cho tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,75%/năm cho kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,25%/năm cho tiền gửi cùng nhóm kỳ hạn này tại quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô.
- Thông tư 14/2017/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 29/9/2017) — Quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng; hiệu lực từ 01/01/2018. Xác lập công thức tiền lãi theo số dư thực tế và số ngày duy trì số dư thực tế, với một năm quy ước 365 ngày thay cho quy ước 360 ngày trước đó; cho phép thỏa thuận thời hạn tính lãi theo một trong hai cách: bỏ ngày đầu, tính ngày cuối hoặc tính ngày đầu, bỏ ngày cuối.
- Thông tư 04/2022/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 16/6/2022) — Quy định về việc áp dụng lãi suất rút trước hạn tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; hiệu lực từ 01/8/2022, được sửa đổi bởi Thông tư 47/2024/TT-NHNN (30/9/2024, hiệu lực 20/11/2024). Rút trước hạn toàn bộ: áp dụng mức tối đa bằng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất của tổ chức tín dụng đó tại thời điểm rút. Rút trước hạn một phần: phần rút áp lãi suất không kỳ hạn thấp nhất, phần còn lại giữ nguyên lãi suất đang áp dụng.
- Thông tư 05/2026/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 31/3/2026) — Quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm tiền gửi; hiệu lực từ 13/7/2026, thay thế hạn mức 125.000.000 đồng tại Quyết định 32/2021/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 20/10/2021). Số tiền bảo hiểm được trả tối đa cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm, gồm cả gốc và lãi, của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là 350.000.000 đồng.