Dòng tiền đầu tư và dòng tiền tài chính là gì?

Dòng tiền từ hoạt động đầu tư và dòng tiền từ hoạt động tài chính là hai phần còn lại của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (mẫu B03-DN): phần đầu tư ghi tiền chi ra và thu về khi doanh nghiệp mua bán tài sản dài hạn, cho vay và góp vốn; phần tài chính ghi tiền vào ra giữa doanh nghiệp với chủ sở hữu và chủ nợ.

Dòng tiền từ hoạt động đầu tư (investing cash flow) là phần II của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, gồm bảy chỉ tiêu: tiền chi mua sắm và xây dựng tài sản cố định (TSCĐ) cùng các tài sản dài hạn khác (mã số 21), tiền thu từ thanh lý và nhượng bán các tài sản đó (22), tiền chi cho vay và mua công cụ nợ của đơn vị khác — trong đó có tiền gửi ngân hàng kỳ hạn trên 3 tháng (23), tiền thu hồi các khoản đó (24), tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác (25), tiền thu hồi khoản góp vốn (26) và tiền thu lãi cho vay, cổ tức, lợi nhuận được chia (27). Dòng tiền từ hoạt động tài chính (financing cash flow) là phần III, gồm sáu chỉ tiêu ghi tiền luân chuyển giữa doanh nghiệp và hai nhóm cấp vốn: tiền thu từ phát hành cổ phiếu và nhận vốn góp của chủ sở hữu (31), tiền trả lại vốn góp và mua lại cổ phiếu (32), tiền thu từ đi vay (33), tiền trả nợ gốc vay (34), tiền trả nợ gốc thuê tài chính (35) và cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu (36). Một chi tiết hay bị nhầm: tiền lãi vay đã trả không nằm ở phần tài chính mà nằm ở phần I — dòng tiền từ hoạt động kinh doanh; phần tài chính chỉ ghi phần nợ gốc.

Cách chia ba phần này tồn tại vì con số "tiền trong tài khoản tăng hay giảm bao nhiêu trong kỳ" tự nó không nói được tiền từ đâu ra. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 yêu cầu phân loại luồng tiền theo bản chất hoạt động, nhờ đó cùng một mức tăng tiền được tách thành ba nguồn có ý nghĩa khác hẳn nhau: tiền do hoạt động cốt lõi tạo ra, tiền chuyển hoá giữa tiền mặt và tài sản dài hạn, tiền huy động từ bên ngoài hoặc hoàn trả ra bên ngoài. Chính vì phân loại theo bản chất chứ không theo kết quả, dấu âm ở phần đầu tư mang nghĩa "đã chi tiền để đổi lấy tài sản", không mang nghĩa thua lỗ — doanh nghiệp bỏ 1.000 tỷ đồng xây nhà máy ghi âm 1.000 tỷ đồng ở mã số 21, dù nhà máy đó có thể là tài sản sinh lời trong nhiều năm sau.

Nhà đầu tư dùng phần đầu tư để ước lượng cường độ chi đầu tư và tính dòng tiền tự do; dùng phần tài chính để biết doanh nghiệp đang hút vốn về hay đang hoàn trả vốn, và cổ tức tiền mặt đã thực trả là bao nhiêu. Chủ nợ đọc mã số 33 và 34 để thấy nhịp vay và trả nợ gốc thực tế thay vì chỉ nhìn số dư nợ trên bảng cân đối kế toán. Bốn giới hạn cần nhớ: cách phân loại phụ thuộc mô hình kinh doanh — với ngân hàng và công ty chứng khoán, cho vay và mua chứng khoán là hoạt động cốt lõi nên không nằm ở phần đầu tư như doanh nghiệp sản xuất; dòng tiền đầu tư phát sinh theo dự án nên một quý đơn lẻ hiếm khi đại diện cho cả chu kỳ; mã số 23 và 24 trộn tiền gửi có kỳ hạn với các khoản cho vay thật, nên phần đầu tư âm chưa chắc là mở rộng năng lực sản xuất; và doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng Thông tư 133/2016/TT-BTC không bắt buộc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ, nên hai chỉ tiêu này có thể không tồn tại ngoài khối niêm yết và công ty đại chúng.

Công thức

Trên mẫu B03-DN, các chỉ tiêu chi tiền được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn, nên hai chỉ tiêu tổng là tổng đại số của các chỉ tiêu thành phần: Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (mã số 30) = 21 + 22 + 23 + 24 + 25 + 26 + 27 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính (mã số 40) = 31 + 32 + 33 + 34 + 35 + 36 Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (mã số 50) = 20 + 30 + 40 Tiền và tương đương tiền cuối kỳ (mã số 70) = 60 + 50 + 61 Trong đó: — Mã số 21: Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác (ghi âm) — Mã số 22: Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các tài sản dài hạn khác — Mã số 23: Tiền chi cho vay, mua các công cụ nợ của đơn vị khác — bao gồm tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn trên 3 tháng (ghi âm) — Mã số 24: Tiền thu hồi cho vay, bán lại các công cụ nợ của đơn vị khác — bao gồm tiền rút gửi ngân hàng có kỳ hạn trên 3 tháng — Mã số 25: Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác (ghi âm) — Mã số 26: Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác — Mã số 27: Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia — Mã số 31: Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu — Mã số 32: Tiền trả lại vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu (ghi âm) — Mã số 33: Tiền thu từ đi vay — Mã số 34: Tiền trả nợ gốc vay (ghi âm) — Mã số 35: Tiền trả nợ gốc thuê tài chính (ghi âm) — Mã số 36: Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu (ghi âm) — Mã số 20: Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (phần I của cùng báo cáo) — Mã số 60: Tiền và tương đương tiền đầu kỳ; Mã số 61: Ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ Phép tính phái sinh thường dùng, không phải chỉ tiêu của chế độ kế toán: Dòng tiền tự do = Mã số 20 − Tiền chi mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác (giá trị tuyệt đối của mã số 21)

Hai phép cộng ở trên là cộng dồn thuần tuý theo cấu trúc mẫu biểu: doanh nghiệp được đánh lại số thứ tự dòng nhưng không được thay đổi mã số của các chỉ tiêu, nên mã số 30 và 40 của mọi doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp đều tương ứng cùng một tập hợp luồng tiền và so sánh chéo được. Việc chọn phương pháp trực tiếp hay gián tiếp chỉ ảnh hưởng đến phần I; phần II và phần III luôn liệt kê từng luồng thu, chi theo tổng số nên hai phương pháp cho cùng một cách trình bày ở đây.

Biến thể cần lưu ý khi tự tính: dòng tiền tự do không có định nghĩa pháp quy, nên số do các nơi công bố có thể khác nhau. Bản phổ biến nhất lấy mã số 20 trừ toàn bộ tiền chi mua sắm, xây dựng TSCĐ (mã số 21). Bản thứ hai trừ chi đầu tư ròng, tức trừ mã số 21 rồi cộng lại mã số 22 (tiền thu từ thanh lý, nhượng bán) — bản này cho số cao hơn ở kỳ doanh nghiệp bán tài sản, và chính vì thế nó trộn lẫn tiền từ việc thu hẹp tài sản vào một chỉ tiêu vốn để đo tiền dôi ra sau khi duy trì năng lực sản xuất. Khi đối chiếu số của hai nguồn khác nhau, kiểm tra biến thể trước khi kết luận nguồn nào sai.

Nguồn số để tự đối chiếu: cả bốn mã số tổng (20, 30, 40, 50) nằm trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong bộ báo cáo tài chính quý và năm mà doanh nghiệp niêm yết công bố; số dư TSCĐ và đầu tư tài chính đầu kỳ, cuối kỳ nằm trên Bảng cân đối kế toán; chi tiết từng khoản vay, kỳ trả nợ gốc và cổ tức đã chi nằm ở Thuyết minh báo cáo tài chính. Kho dữ liệu taichinh.com lưu hai chỉ tiêu tổng này theo từng kỳ báo cáo của từng doanh nghiệp, mỗi chỉ tiêu khoảng 35.700 bản ghi, cùng chuỗi dòng tiền hoạt động kinh doanh tương ứng để đọc ba phần cạnh nhau.

Cách đọc

Mỗi phần trong ba phần có một dấu, nên một kỳ báo cáo cho ra một tổ hợp ba dấu — cách đọc có ích là đọc tổ hợp đó như một chân dung dòng tiền, không đọc từng phần rời rạc.

Tổ hợp kinh doanh dương + đầu tư âm + tài chính âm mô tả doanh nghiệp tự tài trợ: hoạt động cốt lõi tạo đủ tiền để vừa chi đầu tư, vừa trả bớt nợ gốc hoặc trả cổ tức. Đây là hình mẫu thường thấy ở doanh nghiệp đã qua giai đoạn xây dựng năng lực. Tổ hợp kinh doanh dương + đầu tư âm + tài chính dương mô tả doanh nghiệp đang mở rộng nhanh hơn khả năng tự tài trợ, phần thiếu bù bằng vay nợ hoặc phát hành thêm — điểm cần theo dõi là quy mô đầu tư có chuyển thành doanh thu và dòng tiền kinh doanh ở các kỳ sau hay không. Tổ hợp kinh doanh âm + tài chính dương mô tả doanh nghiệp đang sống bằng vốn huy động: tiền vào chủ yếu từ mã số 31 và 33, không từ hoạt động cốt lõi. Với doanh nghiệp mới hoặc dự án dài hạn, đây là đặc điểm giai đoạn; kéo dài nhiều kỳ mà dòng tiền kinh doanh không chuyển dương thì mỗi kỳ tiếp theo phụ thuộc vào việc còn huy động được nữa hay không. Tổ hợp kinh doanh âm + đầu tư dương + tài chính âm mô tả doanh nghiệp bán tài sản để trả nợ, cần đọc kèm quy mô tài sản còn lại.

Dấu âm của phần đầu tư vì vậy không phải tín hiệu tiêu cực theo mặc định — đó là hình thái bình thường của doanh nghiệp đang bỏ tiền mua tài sản. Ngược lại, một phần đầu tư dương lớn thường đến từ thanh lý tài sản (mã số 22), thu hồi vốn góp (26) hoặc rút tiền gửi (24); trong đó chỉ khoản rút tiền gửi là trung tính, hai khoản còn lại có nghĩa là quy mô tài sản dài hạn đang thu hẹp, và điều đó có thể đi cùng năng lực tạo tiền của các kỳ sau giảm theo.

Hai trường hợp con số nhìn thuận mắt nhưng cần soi kỹ. Thứ nhất, phần đầu tư âm sâu do mã số 23 chứ không do mã số 21: doanh nghiệp đem tiền nhàn rỗi gửi kỳ hạn trên 3 tháng làm mã số 30 âm mạnh, trong khi năng lực sản xuất không thay đổi — đọc thành "đang mở rộng" là sai bản chất, và dòng tiền tự do tính theo mã số 21 vẫn nguyên vẹn. Thứ hai, cổ tức tiền mặt đã trả (mã số 36) lớn trong kỳ mà cùng kỳ tiền thu từ đi vay (33) cũng lớn còn dòng tiền kinh doanh (20) mỏng: khoản chi trả cho cổ đông khi đó không đến từ tiền do hoạt động tạo ra. Không có ngưỡng dấu hay quy mô nào phân định tốt xấu tuyệt đối cho hai chỉ tiêu này; ý nghĩa nằm ở cấu phần tạo ra con số, ở tổ hợp ba dấu và ở việc tổ hợp đó lặp lại bao nhiêu kỳ.

Dòng tiền đầu tư và tài chính của doanh nghiệp niêm yết

Trung vị dòng tiền đầu tư của 1.492 doanh nghiệp là -1,8 tỷ đ; dòng tiền tài chính của 1.492 doanh nghiệp là -0,4 tỷ đ. Số âm ở hai dòng tiền này không mang nghĩa xấu — xem cách đọc ở trên.

Dòng tiền đầu tư cao nhất

Dòng tiền đầu tư cao nhất — trung vị và mức cao nhất
Tỷ đKỳ dữ liệu
NVL5.05429/06/2026
PLX4.77229/06/2026
SSH2.02429/06/2026
PET1.62229/06/2026
KHG1.57429/06/2026

Dòng tiền tài chính cao nhất

Dòng tiền tài chính cao nhất — trung vị và mức cao nhất
Tỷ đKỳ dữ liệu
VIC77.60229/06/2026
VHM53.11229/06/2026
VPL17.55529/06/2026
TCX17.16529/06/2026
VPX10.21029/06/2026

Nguồn VNDirect (báo cáo tài chính doanh nghiệp công bố) · mỗi mã lấy kỳ mới nhất trong 18 tháng · ngày ghi theo từng dòng

Sai lầm thường gặp

  • Đọc dấu âm của lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (mã số 30) như một khoản lỗ hoặc một điểm trừ: phần lớn doanh nghiệp đang xây dựng năng lực đều âm ở phần này, vì tiền chi mua tài sản được ghi âm ngay trong kỳ còn tài sản thu về nằm ở Bảng cân đối kế toán chứ không xuất hiện như một khoản thu. Hậu quả: loại khỏi danh sách theo dõi đúng những doanh nghiệp đang đầu tư mở rộng, và ưu tiên nhầm doanh nghiệp có phần đầu tư dương do đang bán tài sản.
  • Nhầm phần đầu tư âm với chi đầu tư tài sản cố định: mã số 30 gộp cả tiền gửi ngân hàng kỳ hạn trên 3 tháng (mã số 23), tiền cho vay và tiền góp vốn vào đơn vị khác (25). Một doanh nghiệp nhiều tiền mặt chuyển tiền từ tài khoản thanh toán sang tiền gửi kỳ hạn 6 tháng sẽ có mã số 30 âm rất sâu mà không mua thêm một tài sản sản xuất nào. Hậu quả: ước lượng chi đầu tư và dòng tiền tự do sai lệch lớn, kéo theo mọi phép định giá dựa trên dòng tiền tự do sai theo.
  • Đọc tiền và tương đương tiền cuối kỳ tăng (mã số 70) như bằng chứng hoạt động tạo ra tiền: mã số 50 là tổng của cả ba phần, nên tiền có thể tăng nhờ mã số 33 (đi vay) hoặc mã số 31 (phát hành cổ phiếu) trong khi mã số 20 âm. Hậu quả: kết luận doanh nghiệp đang tạo tiền trong khi nguồn tiền thực chất là vốn vay và vốn huy động, tức là một nghĩa vụ phải hoàn trả trong tương lai.
  • Đối chiếu cổ tức đã trả (mã số 36) với lợi nhuận sau thuế mà bỏ qua nguồn tiền chi trả: doanh nghiệp có thể trả cổ tức trong kỳ dòng tiền kinh doanh mỏng bằng cách vay thêm hoặc rút tiền gửi. Hậu quả: suy ra khả năng duy trì mức cổ tức tiền mặt cho các năm sau từ một kỳ được tài trợ bằng nguồn không lặp lại.
  • So sánh hai chỉ tiêu này giữa doanh nghiệp phi tài chính với ngân hàng, công ty chứng khoán hoặc bảo hiểm: với các định chế này, cho vay khách hàng và mua bán chứng khoán là hoạt động kinh doanh cốt lõi nên được xếp ở phần I, không nằm ở phần đầu tư như doanh nghiệp sản xuất. Hậu quả: bảng xếp hạng trộn hai nhóm cho ra thứ tự không có ý nghĩa so sánh, vì cùng một bản chất giao dịch được đặt ở hai phần khác nhau của báo cáo.

Đặc thù Việt Nam

Báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam trình bày hai chỉ tiêu này trên mẫu B03-DN. Báo cáo các năm tài chính đến hết 2025 lập theo Thông tư 200/2014/TT-BTC; từ năm tài chính bắt đầu 01/01/2026 lập theo Thông tư 99/2025/TT-BTC. Hai chế độ dùng cùng hệ mã số cho phần đầu tư (21–30) và phần tài chính (31–40), nên chuỗi dữ liệu bắc qua mốc 2026 vẫn so sánh được theo từng mã số — đây là lý do các chỉ tiêu này giữ được tính liên tục trong kho dữ liệu dù chế độ kế toán đã thay đổi.

Bốn đặc thù đáng nhớ khi đọc số liệu Việt Nam. Thứ nhất, nhiều doanh nghiệp niêm yết giữ lượng tiền lớn dưới dạng tiền gửi kỳ hạn trên 3 tháng, và mỗi lần tái tục kỳ hạn đều đi qua mã số 23 và 24 với giá trị rất lớn; đọc mã số 30 mà không tách hai mã này ra sẽ hiểu sai quy mô đầu tư thực. Thứ hai, doanh nghiệp bất động sản và xây lắp chi tiền dự án trong nhiều năm rồi thu dồn khi bàn giao, nên tổ hợp ba dấu của họ đổi theo pha dự án — cần đọc theo cả chu kỳ thay vì từng quý. Thứ ba, cổ tức tiền mặt (mã số 36) chi theo nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên nên dồn vào một hoặc hai quý trong năm, thường là quý sau kỳ họp; so quý liền kề dễ hiểu nhầm, so cùng kỳ năm trước hợp lý hơn. Thứ tư, ngân hàng, công ty chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng chế độ kế toán riêng theo lĩnh vực và xếp cho vay, đầu tư chứng khoán vào hoạt động kinh doanh cốt lõi — không đưa nhóm này vào cùng bảng so sánh với doanh nghiệp sản xuất, thương mại.

Câu hỏi thường gặp

Dòng tiền đầu tư âm có phải là dấu hiệu xấu không?

Không theo mặc định. Phần đầu tư ghi tiền chi ra để đổi lấy tài sản, nên doanh nghiệp mua máy móc, xây nhà máy hay góp vốn đều làm mã số 30 âm — tiền giảm, còn tài sản nhận về nằm trên Bảng cân đối kế toán chứ không xuất hiện như một khoản thu. Điều cần kiểm tra là cấu phần: âm do tiền chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định (mã số 21) là chi cho năng lực sản xuất; âm do tiền gửi ngân hàng kỳ hạn trên 3 tháng (mã số 23) chỉ là chuyển tiền nhàn rỗi sang hình thức khác. Ngược lại, phần đầu tư dương lớn thường đến từ thanh lý tài sản hoặc thu hồi vốn góp, tức quy mô tài sản dài hạn đang thu hẹp.

Đọc ba phần của báo cáo lưu chuyển tiền tệ cùng nhau thì thấy gì?

Tổ hợp ba dấu cho một chân dung dòng tiền. Kinh doanh dương, đầu tư âm, tài chính âm là hình mẫu doanh nghiệp tự tài trợ: tiền từ hoạt động cốt lõi đủ chi đầu tư và trả bớt nợ gốc hoặc trả cổ tức. Kinh doanh dương, đầu tư âm, tài chính dương là mở rộng nhanh hơn khả năng tự tài trợ, phần thiếu bù bằng vay nợ hoặc phát hành thêm. Kinh doanh âm cùng tài chính dương là đang sống bằng vốn vay và vốn huy động — với doanh nghiệp mới hoặc dự án dài hạn đó là đặc điểm giai đoạn, kéo dài nhiều kỳ mà dòng tiền kinh doanh không chuyển dương thì mỗi kỳ tiếp theo phụ thuộc vào khả năng huy động tiếp.

Tìm hai chỉ tiêu này ở đâu trên báo cáo tài chính, mã số nào?

Trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (mẫu B03-DN): phần II là hoạt động đầu tư, kết ở dòng "Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư" — mã số 30, tổng của các mã 21 đến 27; phần III là hoạt động tài chính, kết ở "Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính" — mã số 40, tổng của các mã 31 đến 36. Cộng thêm mã số 20 của phần kinh doanh được mã số 50 là lưu chuyển tiền thuần trong kỳ. Doanh nghiệp niêm yết công bố báo cáo này theo quý và năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng Thông tư 133/2016/TT-BTC không bắt buộc lập, nên số liệu có thể không tồn tại với công ty chưa niêm yết.

Tiền lãi vay đã trả và cổ tức đã trả nằm ở phần nào?

Hai khoản này nằm ở hai phần khác nhau. Tiền lãi vay đã trả thuộc phần I — dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, nên đã được trừ trước khi ra mã số 20. Phần tài chính chỉ ghi nợ gốc: tiền thu từ đi vay (mã số 33), tiền trả nợ gốc vay (34) và tiền trả nợ gốc thuê tài chính (35). Cổ tức và lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu thuộc phần tài chính, mã số 36. Cần phân biệt mã số 36 với mã số 27 ở phần đầu tư — mã số 27 là cổ tức doanh nghiệp nhận được từ các khoản đầu tư của mình, chiều ngược lại.

Nguồn tham khảo

  • Thông tư 99/2025/TT-BTC (Bộ Tài chính, ban hành 27/10/2025) — hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp — Hiệu lực từ 01/01/2026, áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau 01/01/2026; thay thế Thông tư 200/2014/TT-BTC, Thông tư 75/2015/TT-BTC, Thông tư 53/2016/TT-BTC và Thông tư 195/2012/TT-BTC. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ mẫu B03-DN nằm tại phụ lục kèm theo, trong đó phần II mang mã số 21–30 và phần III mang mã số 31–40; doanh nghiệp được đánh lại số thứ tự nhưng không được thay đổi mã số của các chỉ tiêu. Đã kiểm tra tình trạng hiệu lực ngày 20/08/2026, chưa có văn bản sửa đổi hay hoãn hiệu lực.
  • Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 (VAS 24) — Báo cáo lưu chuyển tiền tệ — Ban hành theo Quyết định 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ Tài chính; quy định phân loại luồng tiền theo ba nhóm hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính. Thông tư 99/2025/TT-BTC yêu cầu việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm và giữa niên độ tuân thủ VAS 24 cùng Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 27 — Báo cáo tài chính giữa niên độ.
  • Thông tư 200/2014/TT-BTC (Bộ Tài chính, ban hành 22/12/2014) — hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp — Mẫu B03-DN và hướng dẫn lập từng chỉ tiêu, với cùng hệ mã số 21–30 cho hoạt động đầu tư và 31–40 cho hoạt động tài chính; hướng dẫn ghi các chỉ tiêu chi tiền bằng số âm trong ngoặc đơn, và xếp tiền gửi ngân hàng kỳ hạn trên 3 tháng vào mã số 23, tiền rút gửi vào mã số 24. Áp dụng cho báo cáo các năm tài chính đến hết 2025; hết hiệu lực từ 01/01/2026 — dẫn ở đây vì dữ liệu lịch sử trong kho được lập theo chế độ này.
  • Thông tư 133/2016/TT-BTC (Bộ Tài chính, ban hành 26/08/2016) — Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa — Thay thế Quyết định 48/2006/QĐ-BTC, áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau 01/01/2017; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (mẫu B03-DNN) thuộc nhóm không bắt buộc đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Còn hiệu lực tại ngày 20/08/2026 — từ năm tài chính 2026, doanh nghiệp nhỏ và vừa được chọn tiếp tục áp dụng Thông tư 133/2016/TT-BTC hoặc chuyển sang Thông tư 99/2025/TT-BTC.
  • Stephen H. Penman — Financial Statement Analysis and Security Valuation, ấn bản thứ 5, McGraw-Hill Education (ISBN 978-0-07-802531-0) — Phần phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ: tách hoạt động kinh doanh khỏi hoạt động tài chính, cách dòng tiền đầu tư phản ánh chi tiêu xây dựng năng lực, và giới hạn của dòng tiền tự do như một thước đo khi chi đầu tư phát sinh không đều giữa các kỳ.

Thuật ngữ liên quan

Dòng tiền HĐKDD/E

Nội dung tham khảo; công thức và nguồn được nêu trong từng mục. Không phải khuyến nghị đầu tư.