Biên lợi nhuận gộp và ròng là gì?

Biên lợi nhuận gộp và biên lợi nhuận ròng lần lượt là tỷ lệ lợi nhuận gộp và lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần, cho biết mỗi đồng doanh thu giữ lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ở hai tầng chi phí khác nhau.

Biên lợi nhuận gộp và biên lợi nhuận ròng là hai tỷ số sinh lời cùng lấy doanh thu thuần làm mẫu số, nhưng đo lợi nhuận ở hai tầng khác nhau của báo cáo kết quả kinh doanh. Biên gộp đứng ở tầng trên: lợi nhuận gộp (doanh thu thuần trừ giá vốn hàng bán) chia cho doanh thu thuần, phản ánh sức sinh lời của chính sản phẩm, dịch vụ - trước mọi chi phí vận hành, tài chính và thuế. Biên ròng đứng ở tầng cuối: lợi nhuận sau thuế chia cho doanh thu thuần, tức phần thực sự còn lại của mỗi đồng doanh thu sau khi trừ tiếp chi phí bán hàng, chi phí quản lý, chi phí tài chính, các khoản khác và thuế thu nhập doanh nghiệp.

Hai chỉ số này tồn tại vì lợi nhuận tuyệt đối không so sánh được giữa các doanh nghiệp khác quy mô; quy về tỷ lệ trên doanh thu mới đặt được chúng lên cùng một thước. Quan trọng hơn, đọc hai biên cùng nhau sẽ thấy cấu trúc chi phí: khoảng cách giữa biên gộp và biên ròng chính là toàn bộ gánh nặng ngoài giá vốn. Doanh nghiệp biên gộp dày nhưng biên ròng mỏng đang tiêu phần lớn lãi gộp vào bộ máy hoặc lãi vay.

Nhà phân tích dùng cặp chỉ số này để theo dõi khả năng chuyển doanh thu thành lợi nhuận qua thời gian, so sánh doanh nghiệp cùng ngành, và tách bạch biến động đến từ hoạt động lõi (biên gộp) với biến động đến từ chi phí vận hành, đòn bẩy tài chính hay khoản mục một lần (biên ròng).

Công thức

 Biên LN gộp = Lợi nhuận gộp  Doanh thu thuần ×100% Biên LN ròng = Lợi nhuận sau thuế  Doanh thu thuần ×100%
Dạng văn bản (sao chép)

Biên lợi nhuận gộp = Lợi nhuận gộp / Doanh thu thuần × 100%, trong đó Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần − Giá vốn hàng bán. Biên lợi nhuận ròng = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu thuần × 100%.

Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã trừ các khoản giảm trừ (chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán) - mẫu số luôn là doanh thu thuần, không phải tổng doanh thu. Trên báo cáo theo Thông tư 200, lợi nhuận gộp có sẵn ở chỉ tiêu mã số 20 (= mã 10 − mã 11), lợi nhuận sau thuế ở mã số 60. Tử và mẫu phải cùng một kỳ; khi tính theo 4 quý gần nhất (trailing) thì cả hai cùng cộng 4 quý. Biến thể: với báo cáo hợp nhất, biên ròng có thể tính theo lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ (loại phần cổ đông không kiểm soát); một số giáo trình gọi gọn biên ròng là "profit margin" - net income chia sales.

Cách đọc

Biên gộp cao nghĩa là sản phẩm có sức định giá tốt hoặc kiểm soát giá vốn tốt; biên ròng cao nghĩa là phần lớn lãi gộp thực sự về đến tay chủ sở hữu. Không có ngưỡng "tốt" chung cho mọi doanh nghiệp: cấu trúc chi phí khác nhau căn bản giữa các ngành - bán lẻ, phân phối sống bằng biên mỏng quay vòng nhanh, trong khi phần mềm, dược phẩm thường có biên gộp dày - nên chỉ so trong cùng ngành, và theo khuyến nghị của tài liệu phân tích tỷ số (CFA Institute), so với chính doanh nghiệp qua thời gian. Xu hướng quan trọng hơn mức tuyệt đối: biên gộp thu hẹp dần nhiều kỳ liên tiếp là tín hiệu áp lực cạnh tranh hoặc chi phí đầu vào; biên ròng nhảy vọt một kỳ trong khi biên gộp đứng yên thường do khoản mục ngoài hoạt động lõi, cần đọc thuyết minh trước khi kết luận.

Sai lầm thường gặp

  • So biên chéo ngành rồi kết luận về hiệu quả: đem biên gộp của doanh nghiệp bán lẻ, phân phối (mỏng nhưng quay vòng nhanh) so với phần mềm hay dược (dày) là so hai mô hình kinh doanh khác nhau, không nói lên doanh nghiệp nào vận hành tốt hơn.
  • Nhìn biên ròng một kỳ tăng vọt mà bỏ qua biên gộp: nhiều doanh nghiệp niêm yết VN có lợi nhuận sau thuế nhảy mạnh nhờ doanh thu tài chính hoặc lợi nhuận khác (bán tài sản, hoàn nhập dự phòng) trong khi hoạt động lõi không đổi - biên gộp đứng yên là dấu hiệu phải đọc thuyết minh.
  • Lấy nhầm dòng lợi nhuận trên báo cáo hợp nhất: dùng lợi nhuận sau thuế gồm cả phần cổ đông không kiểm soát để tính biên ròng "của cổ đông", làm chỉ số phồng lên ở các tập đoàn có nhiều công ty con không sở hữu 100%.
  • Kết luận từ biên của một quý với doanh nghiệp ghi nhận doanh thu không đều: bất động sản ghi nhận doanh thu theo thời điểm bàn giao nên biên từng quý dao động rất mạnh; cần nhìn lũy kế năm hoặc 4 quý gần nhất thay vì một quý đơn lẻ.

Đặc thù Việt Nam

Báo cáo kết quả kinh doanh theo Thông tư 200/2014/TT-BTC (Mẫu B02-DN) cho sẵn chỉ tiêu "Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ" (mã số 20), nên không phải tự tính tử số; lưu ý chỉ tiêu này chỉ gồm hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, không gồm doanh thu hoạt động tài chính. Ngân hàng, công ty chứng khoán, bảo hiểm dùng mẫu báo cáo riêng, không có chỉ tiêu lợi nhuận gộp tương đương, nên không so biên gộp của nhóm này với doanh nghiệp phi tài chính. Với báo cáo hợp nhất, lợi nhuận sau thuế (mã 60) gồm cả phần cổ đông không kiểm soát - khi tính biên ròng cho cổ đông công ty mẹ phải lấy đúng dòng tương ứng.

Câu hỏi thường gặp

Biên lợi nhuận gộp bao nhiêu là tốt?

Không có ngưỡng chung cho mọi doanh nghiệp vì cấu trúc chi phí mỗi ngành khác nhau căn bản. Cách đọc đúng là so biên gộp của doanh nghiệp với chính nó qua nhiều kỳ và với các doanh nghiệp cùng ngành trong cùng kỳ. Biên ổn định hoặc mở rộng dần quan trọng hơn một con số tuyệt đối cao.

Biên gộp tăng nhưng biên ròng giảm nghĩa là gì?

Hoạt động lõi vẫn sinh lời tốt hơn, nhưng các chi phí nằm dưới lợi nhuận gộp - chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính (thường là lãi vay) hoặc thuế - đang tăng nhanh hơn. Khoảng cách giữa hai biên nới rộng là tín hiệu để soi từng dòng chi phí này trên báo cáo kết quả kinh doanh.

Lợi nhuận ròng có phải là lợi nhuận sau thuế không?

Trong thực hành ở Việt Nam, biên lợi nhuận ròng thường tính bằng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (mã số 60 trên Mẫu B02-DN). Riêng với báo cáo hợp nhất, nếu muốn đo phần thuộc về cổ đông công ty mẹ thì dùng dòng lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ, vì mã 60 gồm cả phần cổ đông không kiểm soát.

Nguồn tham khảo

  • Bộ Tài chính - Thông tư 200/2014/TT-BTC, hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp - Mẫu B02-DN (Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh): chỉ tiêu Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ, mã số 20 = mã số 10 − mã số 11; chỉ tiêu Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, mã số 60
  • CFA Institute - CFA Program curriculum, Financial Statement Analysis, reading "Financial Analysis Techniques" - Nhóm tỷ số sinh lời trên doanh thu (return on sales) gồm gross profit margin và net profit margin; nguyên tắc so sánh qua thời gian và với doanh nghiệp cùng ngành
  • Stephen A. Ross, Randolph W. Westerfield, Bradford D. Jordan - Fundamentals of Corporate Finance (McGraw-Hill) - Chương Working with Financial Statements, mục các thước đo sinh lời: profit margin = net income / sales

Thuật ngữ liên quan

ROEEPS

Nội dung tham khảo; công thức và nguồn được nêu trong từng mục. Không phải khuyến nghị đầu tư.
Biên lợi nhuận gộp và ròng là gì? - taichinh.com