EPS - Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu là gì?

EPS là phần lợi nhuận sau thuế phân bổ cho mỗi cổ phiếu phổ thông đang lưu hành, bằng lợi nhuận thuộc cổ đông phổ thông chia cho số cổ phiếu bình quân gia quyền trong kỳ.

EPS (Earnings Per Share - lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu) đo phần lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp tạo ra cho mỗi cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ. Chỉ số này tồn tại vì con số lợi nhuận tuyệt đối không nói được gì với người nắm cổ phiếu: hai doanh nghiệp cùng lãi một nghìn tỷ đồng nhưng số cổ phiếu lưu hành khác nhau thì phần lợi nhuận ứng với một cổ phiếu khác hẳn nhau. EPS quy lợi nhuận về đúng đơn vị mà nhà đầu tư sở hữu - một cổ phiếu.

Chuẩn mực kế toán (VAS 30 của Việt Nam và IAS 33 quốc tế) yêu cầu doanh nghiệp trình bày hai con số song song: EPS cơ bản, tính trên số cổ phiếu thực tế lưu hành bình quân trong kỳ, và EPS pha loãng - báo cáo tài chính Việt Nam gọi là "lãi suy giảm trên cổ phiếu" - giả định mọi công cụ có thể chuyển thành cổ phiếu phổ thông (trái phiếu chuyển đổi, quyền mua, ESOP) đều được thực hiện.

Nhà phân tích dùng EPS làm đầu vào trực tiếp của P/E - thước đo định giá phổ biến nhất; giữa hai kỳ báo cáo năm, giới phân tích thường dùng EPS 4 quý gần nhất (TTM) để cập nhật. Cổ đông theo dõi tăng trưởng EPS thay vì tăng trưởng lợi nhuận, vì lợi nhuận tăng mà số cổ phiếu tăng nhanh hơn thì phần của mỗi cổ phần vẫn co lại.

Công thức

EPS= LNST − cổ tức cổ phiếu ưu đãi  Số cổ phiếu phổ thông lưu hành bình quân 
Dạng văn bản (sao chép)

EPS cơ bản = (Lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ − Cổ tức ưu đãi − Số trích quỹ khen thưởng, phúc lợi) / Số lượng bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ. EPS pha loãng = (Tử số của EPS cơ bản + Lợi nhuận điều chỉnh từ các công cụ chuyển đổi) / (Mẫu số của EPS cơ bản + Số cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động pha loãng)

Tử số theo VAS 30 là lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ - tức đã loại lợi ích cổ đông không kiểm soát và cổ tức ưu đãi; Thông tư 200/2014/TT-BTC yêu cầu trừ thêm số trích quỹ khen thưởng, phúc lợi vì phần này không thuộc về cổ đông. Mẫu số là bình quân gia quyền theo thời gian lưu hành trong kỳ, phải điều chỉnh hồi tố cho các kỳ trước khi có thưởng cổ phiếu hoặc chia tách. Biến thể phổ biến: EPS TTM cộng tử số của 4 quý gần nhất (giới dữ liệu hay dùng cho P/E giữa niên độ); EPS pha loãng cộng vào mẫu số cổ phiếu tiềm năng từ trái phiếu chuyển đổi, quyền mua, ESOP nếu chúng có tác động pha loãng.

Cách đọc

EPS cao nghĩa là mỗi cổ phiếu gánh được nhiều lợi nhuận hơn; EPS âm nghĩa là doanh nghiệp lỗ trong kỳ. Không có ngưỡng "EPS tốt" tuyệt đối, vì mẫu số là số cổ phiếu lưu hành - thứ doanh nghiệp có thể thay đổi bất kỳ lúc nào bằng phát hành thêm, chia tách hay thưởng cổ phiếu; hai doanh nghiệp cùng chất lượng có thể có EPS chênh nhau nhiều lần chỉ vì số cổ phiếu khác nhau. EPS có nghĩa nhất trong hai trường hợp: theo dõi cùng một doanh nghiệp qua thời gian trên chuỗi số liệu đã điều chỉnh hồi tố, và làm đầu vào của P/E để so định giá giữa các doanh nghiệp cùng ngành - vì chu kỳ lợi nhuận và cấu trúc vốn khác nhau giữa các ngành. Khoảng cách lớn giữa EPS cơ bản và EPS pha loãng là tín hiệu cảnh báo lượng cổ phiếu tiềm năng chờ chuyển đổi sẽ bào mòn phần của cổ đông hiện hữu.

EPS của các doanh nghiệp niêm yết

Trung vị EPS của 1.479 doanh nghiệp niêm yết có dữ liệu là 1.232 đ.

EPS cao nhất

EPS cao nhất
MãEPS (đ)Kỳ dữ liệu
HLB50.31931/12/2025
AGX48.43331/12/2025
CMF38.14330/06/2026
WCS27.56930/06/2026
TOS22.86730/06/2026

Nguồn VNDirect (báo cáo tài chính doanh nghiệp công bố) - số liệu trong khoảng 31/03/2025-30/06/2026 - đã loại giá trị không có ý nghĩa (N/M)

Sai lầm thường gặp

  • So EPS tuyệt đối giữa hai doanh nghiệp để kết luận bên nào "làm ăn tốt hơn": EPS phụ thuộc số cổ phiếu lưu hành, nên doanh nghiệp ít cổ phiếu luôn có EPS trông cao hơn dù hiệu quả không hơn.
  • Bỏ qua pha loãng khi doanh nghiệp phát hành dày đặc - ESOP, cổ phiếu thưởng, trả cổ tức bằng cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi rất phổ biến ở doanh nghiệp niêm yết Việt Nam: lấy EPS cơ bản của kỳ trước chia cho giá sau khi số cổ phiếu đã tăng mạnh cho ra P/E thấp giả tạo.
  • Thấy EPS quá khứ "tụt" sau khi doanh nghiệp chia tách hoặc thưởng cổ phiếu và tưởng lợi nhuận sa sút: đó là điều chỉnh hồi tố mẫu số theo chuẩn mực, không phải lợi nhuận giảm.
  • Trộn EPS từ các nguồn dữ liệu có quy ước khác nhau (năm tài chính hay TTM, có trừ quỹ khen thưởng phúc lợi theo Thông tư 200 hay không, đã hồi tố hay chưa) rồi so chéo - chênh lệch giữa các quy ước đủ lớn để đảo kết luận xếp hạng.

Đặc thù Việt Nam

Báo cáo tài chính Việt Nam dùng thuật ngữ "lãi suy giảm trên cổ phiếu" (VAS 30) cho diluted EPS. Khác biệt lớn nhất so với IAS 33: Thông tư 200/2014/TT-BTC yêu cầu trừ số trích quỹ khen thưởng, phúc lợi khỏi tử số vì phần này không thuộc về cổ đông - doanh nghiệp trích quỹ lớn sẽ có EPS theo chế độ kế toán Việt Nam thấp hơn EPS tính theo thông lệ quốc tế. Doanh nghiệp phải trình bày cả hai chỉ tiêu mã số 70 và 71 trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; cách tính chi tiết theo VAS 30 được hướng dẫn tại Thông tư 21/2006/TT-BTC. Trả cổ tức bằng cổ phiếu và thưởng cổ phiếu rất phổ biến trên thị trường Việt Nam, nên chuỗi EPS lịch sử buộc phải điều chỉnh hồi tố mới so sánh được giữa các kỳ.

Câu hỏi thường gặp

EPS bao nhiêu là tốt?

Không có ngưỡng tuyệt đối, vì EPS phụ thuộc số cổ phiếu đang lưu hành - thứ mỗi doanh nghiệp mỗi khác và thay đổi khi phát hành thêm hay chia tách. Nhà phân tích nhìn tăng trưởng EPS của cùng doanh nghiệp qua các kỳ và đưa EPS vào P/E để so định giá trong cùng ngành, thay vì so EPS tuyệt đối giữa hai doanh nghiệp.

EPS cơ bản khác EPS pha loãng thế nào?

EPS cơ bản tính trên số cổ phiếu phổ thông thực tế lưu hành bình quân trong kỳ. EPS pha loãng giả định mọi công cụ có thể chuyển thành cổ phiếu - trái phiếu chuyển đổi, quyền mua, ESOP - đều được thực hiện, nên mẫu số lớn hơn và kết quả luôn thấp hơn hoặc bằng EPS cơ bản. Trên báo cáo tài chính Việt Nam, chỉ số này mang tên "lãi suy giảm trên cổ phiếu" theo VAS 30.

Vì sao EPS của cùng một mã trên các trang dữ liệu lại khác nhau?

Vì quy ước tính khác nhau: có nơi dùng lợi nhuận năm gần nhất, có nơi dùng 4 quý gần nhất (TTM); có nơi trừ số trích quỹ khen thưởng, phúc lợi theo Thông tư 200, có nơi không; mức độ điều chỉnh hồi tố sau chia tách, thưởng cổ phiếu cũng khác nhau. Khi so sánh nhiều mã, phải dùng cùng một nguồn với cùng một quy ước.

Nguồn tham khảo

  • Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 30 (VAS 30) - Lãi trên cổ phiếu, ban hành theo Quyết định 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ Tài chính - Đoạn 07-08: lãi cơ bản trên cổ phiếu bằng lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ chia cho số lượng bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ; đoạn 28 trở đi: lãi suy giảm trên cổ phiếu
  • Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính - Hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp - Hướng dẫn lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu B02-DN): chỉ tiêu Lãi cơ bản trên cổ phiếu (mã số 70) và Lãi suy giảm trên cổ phiếu (mã số 71); tử số trừ số trích quỹ khen thưởng, phúc lợi từ lợi nhuận sau thuế
  • IAS 33 - Earnings per Share, Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IASB (ifrs.org) - Định nghĩa basic EPS và diluted EPS; mẫu số là số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành, gia quyền theo số ngày lưu hành trong kỳ; yêu cầu thuyết minh đối chiếu hai mẫu số
  • CFA Program Curriculum Level I - Financial Statement Analysis, học phần "Understanding Income Statements" (CFA Institute) - Phần Earnings per Share and Capital Structure: quy ước tính và diễn giải EPS cơ bản, EPS pha loãng với cổ phiếu tiềm năng từ quyền chọn, chứng quyền, công cụ chuyển đổi

Thuật ngữ liên quan

P/EBiên lợi nhuận

Nội dung tham khảo; công thức và nguồn được nêu trong từng mục. Không phải khuyến nghị đầu tư.