CPI và lạm phát là gì?
CPI là chỉ số đo biến động giá theo thời gian của rổ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng đại diện; lạm phát là tốc độ tăng mặt bằng giá, đo bằng phần trăm thay đổi CPI.
CPI (Consumer Price Index - chỉ số giá tiêu dùng) đo mức độ biến động giá theo thời gian của một "rổ" hàng hóa, dịch vụ đại diện cho tiêu dùng cuối cùng của dân cư. Tại Việt Nam, rổ thời kỳ 2020-2025 gồm 752 mặt hàng chia thành 11 nhóm cấp 1; giá được thu thập hằng tháng tại khoảng 40.000 điểm điều tra trên cả nước. Quyền số của từng nhóm là tỷ trọng chi tiêu của nhóm đó trong tổng chi tiêu dân cư, cố định theo năm gốc và được rà soát 5 năm một lần; từ thời kỳ 2025-2030, CPI chuyển sang năm gốc 2024, thu thập giá theo phương án mới từ tháng 10/2025 bằng thiết bị điện tử CAPI.
Cần tách bạch hai khái niệm: CPI là một chỉ số (năm gốc quy ước bằng 100), còn lạm phát là tốc độ tăng của mặt bằng giá - trong thực hành được đo bằng phần trăm thay đổi của CPI giữa hai kỳ. Nói "CPI tháng này là 4%" là sai về bản chất; đúng phải là "CPI tăng 4% so với cùng kỳ".
Chỉ số này tồn tại vì nền kinh tế cần một thước đo sức mua của đồng tiền: Quốc hội giao chỉ tiêu kiểm soát CPI bình quân, Ngân hàng Nhà nước dựa vào đó điều hành tiền tệ, doanh nghiệp điều chỉnh lương và hợp đồng, nhà đầu tư khấu trừ lạm phát khỏi lợi suất danh nghĩa để biết lợi suất thực. Số liệu do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố hằng tháng.
Công thức
Dạng văn bản (sao chép)
CPI_t = Σ [ w_i × ( p_i,t / p_i,0 ) ] × 100, với Σ w_i = 1 (chỉ số kiểu Laspeyres, quyền số kỳ gốc) Lạm phát kỳ t so với kỳ s: π = ( CPI_t / CPI_s − 1 ) × 100% - So tháng trước (MoM): s là tháng liền trước - So cùng kỳ (YoY): s là cùng tháng năm trước - So tháng 12 năm trước: đo mức tăng lũy kế từ đầu năm Lạm phát bình quân năm: π_bq = ( CPI trung bình 12 tháng năm nay / CPI trung bình 12 tháng năm trước − 1 ) × 100% Lạm phát cơ bản: tính như trên nhưng trên CPI đã loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý giá (dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục).
Trong công thức: p_i,t là giá mặt hàng (nhóm hàng) i kỳ t; p_i,0 là giá kỳ gốc; w_i là quyền số - tỷ trọng chi tiêu của nhóm i trong tổng chi tiêu dân cư kỳ gốc, xác định từ Khảo sát mức sống dân cư và điều tra quyền số CPI, cố định trong 5 năm. Quy ước CPI năm gốc bằng 100; thời kỳ 2025-2030 dùng năm gốc 2024 (thời kỳ trước: năm gốc 2019, quyền số từ khảo sát 2018). Chỉ số quyền số cố định kỳ gốc thuộc họ Laspeyres theo chuẩn IMF. Lưu ý hai quy ước hay nhầm: lạm phát bình quân so trung bình của chỉ số, không phải trung bình cộng các mức lạm phát tháng; và lạm phát lũy kế nhiều kỳ phải nhân dồn (1+π₁)(1+π₂)…, không cộng số học.
Cách đọc
Đọc ba con số theo ba mục đích. MoM cho nhịp ngắn hạn, chịu yếu tố mùa vụ rõ (giá thường tăng vào tháng Tết rồi hạ nhiệt) nên không suy diễn xu hướng từ một tháng. YoY là thước đo tiêu đề phổ biến, đã tự triệt tiêu mùa vụ. Bình quân năm mới là con số so với chỉ tiêu Quốc hội - năm 2026 chỉ tiêu là CPI bình quân tăng khoảng 4,5% (Nghị quyết 244/2025/QH15); lấy YoY của riêng tháng 12 so với chỉ tiêu này là so lệch thước. Tiếp theo, so lạm phát chung với lạm phát cơ bản: chung cao hơn cơ bản nhiều nghĩa là áp lực đến từ thực phẩm, năng lượng hoặc giá Nhà nước điều chỉnh; cơ bản bám sát chung nghĩa là tăng giá đã lan rộng. Cuối cùng, lạm phát giảm không có nghĩa giá giảm - chỉ là giá tăng chậm lại; và lấy lãi suất danh nghĩa trừ lạm phát để ước lãi suất thực.
Số liệu Việt Nam mới nhất
Kỳ 01/07/2026
Nguồn Cục Thống kê (CPI) - mở bảng chỉ số vĩ mô
Sai lầm thường gặp
- Đồng nhất CPI với lạm phát: nói "CPI tháng này là 3,5%" - CPI là chỉ số (năm gốc = 100), 3,5% là tốc độ tăng của nó; hai đại lượng khác bản chất.
- So sai thước với chỉ tiêu Quốc hội: lấy lạm phát YoY của tháng 12 (hoặc một tháng bất kỳ) so với chỉ tiêu "khoảng 4,5%", trong khi chỉ tiêu Quốc hội giao là CPI bình quân cả năm so với bình quân năm trước.
- Kết luận "thống kê sai vì giá nhà đất tăng mạnh mà CPI thấp": CPI chỉ đo hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng cuối cùng, không bao gồm giá đất và tài sản - giá nhà đất tăng không nằm trong phạm vi CPI.
- Cộng số học lạm phát các tháng để ra lạm phát cả năm thay vì nhân lũy kế (1+π₁)(1+π₂)…; với mức lạm phát thấp sai số nhỏ nên dễ thành thói quen, nhưng về phương pháp là sai.
- Dùng CPI để so mức giá đắt rẻ giữa hai địa phương: CPI đo biến động theo thời gian tại từng nơi; so sánh không gian phải dùng chỉ số giá sinh hoạt theo không gian (SCOLI).
- Coi lạm phát cơ bản là con số "chính xác hơn" lạm phát chung: nó chỉ loại các cấu phần biến động mạnh (lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng, giá Nhà nước quản lý) để lộ xu hướng nền, không thay thế lạm phát chung - chi phí sống thực tế vẫn do lạm phát chung phản ánh.
- Hiểu "lạm phát hạ nhiệt" là giá giảm: giá chỉ tăng chậm lại; mặt bằng giá giảm tuyệt đối là giảm phát, một hiện tượng khác hẳn.
Đặc thù Việt Nam
Từ năm 2025, cơ quan biên soạn CPI được tổ chức lại: Tổng cục Thống kê (trước đây thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư) trở thành Cục Thống kê thuộc Bộ Tài chính - các ấn phẩm từ 2025 trở đi ký tên \"Bộ Tài chính - Cục Thống kê\", số liệu vẫn công bố tại nso.gov.vn. Số liệu theo năm gốc 2024 áp dụng cho thời kỳ 2025-2030, vì vậy chuỗi CPI dài hạn ghép qua các kỳ gốc (2009, 2014, 2019, 2024) phải nối chỉ số, không so trực tiếp mức chỉ số giữa hai kỳ gốc. Muốn so mức giá đắt rẻ giữa các tỉnh, dùng chỉ số giá sinh hoạt theo không gian (SCOLI) do cùng cơ quan công bố, không dùng CPI.
Câu hỏi thường gặp
CPI và lạm phát khác nhau thế nào?
CPI là chỉ số mức giá của rổ tiêu dùng đại diện, quy ước năm gốc bằng 100. Lạm phát là tốc độ tăng của mặt bằng giá, đo bằng phần trăm thay đổi CPI giữa hai kỳ. Một bên là "mức", một bên là "tốc độ tăng của mức" - như quãng đường so với vận tốc.
Vì sao giá ngoài chợ tôi thấy tăng mạnh hơn con số CPI công bố?
CPI là bình quân gia quyền của 752 mặt hàng trên cả nước theo cơ cấu chi tiêu trung bình của dân cư. Mỗi hộ có cơ cấu chi tiêu riêng - hộ chi nhiều cho thực phẩm, học phí sẽ cảm nhận "lạm phát riêng" cao hơn mức chung. Ngoài ra, người ta nhớ món tăng giá rõ hơn món đứng giá.
Lạm phát cơ bản loại trừ những gì và để làm gì?
Theo Cục Thống kê, lạm phát cơ bản là CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý giá (dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục). Mục đích là lọc các cú sốc ngắn hạn và các đợt điều chỉnh giá hành chính để nhìn xu hướng lạm phát nền của nền kinh tế.
Chỉ tiêu lạm phát "khoảng 4,5%" của Quốc hội là con số nào?
Là tốc độ tăng CPI bình quân cả năm so với bình quân năm trước (năm 2026 theo Nghị quyết 244/2025/QH15). Muốn đối chiếu với chỉ tiêu này phải dùng số "bình quân", không dùng lạm phát so cùng kỳ của một tháng riêng lẻ.
Rổ hàng hóa CPI có cố định mãi không?
Không. Danh mục mặt hàng đại diện, quyền số và năm gốc được rà soát, cập nhật định kỳ 5 năm một lần cho khớp cơ cấu tiêu dùng mới. Thời kỳ 2020-2025 dùng năm gốc 2019 (rổ 752 mặt hàng, quyền số từ khảo sát 2018); thời kỳ 2025-2030 chuyển sang năm gốc 2024, thu thập giá theo phương án mới từ tháng 10/2025.
CPI có bao gồm giá nhà đất, vàng, chứng khoán không?
Không. CPI chỉ đo hàng hóa, dịch vụ phục vụ tiêu dùng cuối cùng của dân cư; giá đất, tài sản đầu tư như vàng hay cổ phiếu không thuộc rổ CPI (Cục Thống kê công bố riêng chỉ số giá vàng và đô la Mỹ hằng tháng, tách khỏi CPI).
Nguồn tham khảo
- Cục Thống kê (NSO), "Chỉ số giá tiêu dùng và phương pháp đo lường tại Việt Nam" (11/2025) - nso.gov.vn - định nghĩa CPI; rổ 752 mặt hàng thời kỳ 2020-2025; khoảng 40.000 điểm điều tra giá; quyền số là tỷ trọng chi tiêu dân cư, từ Khảo sát mức sống dân cư và điều tra quyền số CPI 2018; CPI không bao gồm giá đất và hàng hóa bất hợp pháp; phương pháp theo thông lệ thống kê quốc tế với hỗ trợ của IMF.
- Cục Thống kê, Thông cáo báo chí về Phương án điều tra giá tiêu dùng (CPI) thời kỳ 2025-2030, năm gốc 2024 (01/2026) - nso.gov.vn - chuyển năm gốc từ 2019 sang 2024; rà soát danh mục mặt hàng đại diện và quyền số định kỳ 5 năm/lần; thu thập giá theo phương án mới từ tháng 10/2025 bằng CAPI trên tất cả tỉnh, thành phố.
- Cục Thống kê, Thông cáo báo chí tình hình giá hằng tháng (các kỳ 2024-2026) - nso.gov.vn - định nghĩa lạm phát cơ bản: CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý giá là dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục; công bố song song lạm phát chung và lạm phát cơ bản theo MoM, YoY, bình quân.
- IMF, ILO, Eurostat, OECD, UNECE, World Bank - Consumer Price Index Manual: Concepts and Methods (2020) - imf.org - chuẩn quốc tế về biên soạn CPI, được Ủy ban Thống kê Liên Hợp Quốc thông qua tháng 3/2020 (bản cập nhật của sổ tay 2004); cơ sở phương pháp cho chỉ số quyền số cố định kiểu Laspeyres mà các cơ quan thống kê quốc gia áp dụng.
- Nghị quyết 244/2025/QH15 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 - Chỉ tiêu tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5% - minh chứng chỉ tiêu pháp định dùng thước "bình quân năm", không phải YoY tháng 12.