Là chủ nợ lớn nhất thế giới, Trung Quốc ‘dồn’ các nước đang phát triển vào ‘góc tường’ và đối mặt với nguy cơ chìm trong khủng hoảng nợ

34

Tuyến đường sắt tương lai chạy ngang qua các khu rừng ở Lào với hơn 400 km. Sẽ sớm thôi, những đoàn tàu sẽ lăn bánh ở đây, qua các cây cầu, đường hầm và các con đập được xây dựng dành riêng cho tuyến đường – chạy từ biên giới phía bắc Trung Quốc đến thủ đô Viêng Chăn của Lào trên sông Mê Kông.

Sau 5 năm xây dựng, tuyến đường này dự kiến chính thức hoạt động vào năm 2021. Trước bộ phận của Trung Quốc chắc rằng tuyến đường sẽ hoàn thành đúng hạn, ông nói: “Chỉ tính riêng bộ phận của chúng tôi đã có 4.000 công nhân.” Ngoài ra, tiền cho dự án này cũng không thiếu. Chính phủ Trung Quốc đã chi khoảng 6 tỷ USD cho dự án và gần đây đã trở thành chủ nợ lớn nhất, đồng thời là nhà cung cấp viện trợ phát triển quan trọng nhất của Lào.

Cuối cùng, Trung Quốc không chỉ trực tiếp tài trợ 70% cho tuyến đường sắt mới, họ còn xây dựng các con đập, trường học, bệnh viện quân đội và thậm chí còn phóng một vệ tinh liên lạc cho nước này. Hồi tháng 4, Bắc Kinh cho Lào vay thêm 40 triệu USD để xây dựng đường bộ – một khoản tiền được cung cấp thông qua Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB).

Nếu tính cả Hồng Kông, Trung Quốc không chỉ là chủ nợ lớn nhất của Lào, mà còn là toàn thế giới. Từ Kenya đến Montenegro, từ Ecuador đến Djibouti, đường bộ, đập và nhà mát điện đang được xây dựng với khoản vay hàng tỷ USD từ Bắc Kinh. Tất cả các quốc gia đó sẽ phải thanh toán những khoản nợ vào năm tới, một điều tất nhiên là có tính lãi.

“Cơn lũ” vốn từ Trung Quốc đã giúp nền kinh tế toàn cầu không rơi vào tình trạng ảm đạm, sau vụ phá sản lịch sử của Lehman Brothers và khủng hoảng tài chính. Dẫu vậy, việc này vẫn gây ra nhiều tranh cãi.

Đối với một số quốc gia, hàng tỷ USD từ Trung Quốc là sự đóng góp rất đáng mừng trong việc hỗ trợ nhiều khu vực kém phát triển ở châu Á và châu Phi phát triển cơ sở hạ tầng. Còn với những quốc gia khác, khoản vay từ Bắc Kinh đã đẩy một nửa thế giới phải phụ thuộc vào họ về kinh tế và chính trị. Một số ý kiến cho rằng đây là “sự ràng buộc về nợ”, còn một nhóm thượng nghị sĩ Mỹ cảnh báo “nỗ lực vũ khí hoá vốn” của Trung Quốc.

Thiếu tính minh bạch

Hơn nữa, thông tin về các khoản vay cũng không có nhiều. Tài sản ở nước ngoài của Trung Quốc hiện trị giá 6 nghìn tỷ USD, nhưng ngoài chính phủ Bắc Kinh thì không ai biết số tiền đó đã được đầu tư vào đâu và những điều kiện, rủi ro nào đi kèm. Bởi Trung Quốc không hoàn toàn cung cấp toàn bộ sổ sách kế toán cho những tổ chức quốc tế như WB và IMF, nên sự minh bạch cần thiết là không có, theo Chủ tịch IMF Christine Lagarde.

Là chủ nợ lớn nhất thế giới, Trung Quốc dồn các nước đang phát triển vào góc tường và đối mặt với nguy cơ chìm trong khủng hoảng nợ  - Ảnh 1.

Dẫu vậy, hiện tại, với việc công bố một nghiên cứu mới được thực hiện bởi một nhóm các chuyên gia người Mỹ, thì bà Largarde sẽ có được một bức tranh rõ nét hơn. Trong nhiều tháng, các nhà kinh tế đã nghiên cứu nguồn tư liệu xác thực lẫn chưa xác thực, tổng hợp toàn diện nhất về các khoản Trung Quốc cho nước ngoài vay. Và hình ảnh cuối cùng cũng không thể giảm bớt những lo ngại về tiềm lực tài chính của Bắc Kinh. 

Ngược lại, số liệu cho thấy nhiều quốc gia ở những khu vực nghèo trên thế giới đã chấp nhận đi vay Trung Quốc nhiều hơn so với trước đây. Hơn nữa, các khoản vay thường đi kèm với điều kiện chặt chẽ hướng đến lợi ích chiến lược của Bắc Kinh và làm tăng rủi ro về khủng hoảng tài chính ở các nước đang phát triển. Christoph Trebesch, đồng tác giả của Viện kinh tế Thế giới Kiel, đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết: “Phương Tây vẫn chưa hiểu được làm cách nào mà sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã thay đổi hệ thống tài chính quốc tế.”

Vòng lặp tài chính khép kín

Theo nghiên cứu này, Trung Quốc cung cấp nhiều vốn sang các nước đang phát triển và mới nổi hơn so với những nước công nghiệp khác cộng lại. Hơn nữa, nhiều điều kiện đi kèm với các khoản vay đang đè nặng lên các nước này.

Trong khi các chính phủ phương Tây và những tổ chức đa phương thường áp dụng mức lãi suất thấp và thời gian đáo hạn dài đối với những khoản vay, thì Trung Quốc có xu hướng đưa ra giai đoạn ngắn và lãi suất cao hơn. Để đảm bảo các khoản vay được hoàn trả, các hợp đồng cho vay sẽ quy định Bắc Kinh với một số đặc quyền, ví dụ như tiếp cận nguồn thực phẩm, nguyên liệu thô hoặc lợi nhuận của các công ty nhà nước ở nước tiếp nhận. Thông thường, chính phủ Trung Quốc chuyển tiền thẳng cho các công ty của họ đã ký hợp đồng xây sân bay, cảng hoặc đập. Đây là một cách tiếp cận tạo vòng lặp tài chính khép kín mà không cần đến tài khoản nước ngoài. 

Ngoài ra, hơn 75% các khoản vay viện trợ trực tiếp được cung cấp trong những năm gần đây đều đến từ 2 tổ chức tài chính nhà nước: Ngân hàng Xuất-Nhập khẩu Trung Quốc (EIBC) và Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB). Điều đó có nghĩa là chính phủ sẽ được thông báo liên tục về mọi giai đoạn của các dự án viện trợ và khi khủng hoảng xảy ra với quốc gia đi vay thì Trung Quốc vẫn có lợi thế để lấy được tài sản thế chấp từ những “con nợ”. Nghiên cứu này cũng lưu ý rằng Trung Quốc đã phát triển một hình thức hỗ trợ phát triển mới, trong đó có các khoản vay của nhà nước được cung cấp theo những điều khoản thương mại. Điều đó có thể dẫ đến những xung đột không hay khi các dự án không được tiến hành như kế hoạch. 

Nguy cơ vỡ nợ

Nghiên cứu này chỉ ra quy mô của nỗ lực che giấu các khoản vay cho các nước đang phát triển của Bắc Kinh. Nhóm chuyên gia lập luận rằng nhiều khoản thanh toán từ Bắc Kinh đang bị che đậy bởi chúng đi thẳng đến các các công ty nhà nước đang hoạt động ở các nước tiếp nhận. Dẫu vậy, bảng cân đối kế toán của họ lại thường không có trong thống kê tài chính chính thức. Kết quả là, một lượng lớn những khoản cho vay phát triển của Trung Quốc bị “che mắt” khỏi chính phủ phương Tây và các tổ chức quốc tế. Nghiên cứu này cho thấy khoản nợ nước ngoài do Trung Quốc nắm giữ cao hơn khoảng 50% so với số liệu chính thức. 

Là chủ nợ lớn nhất thế giới, Trung Quốc dồn các nước đang phát triển vào góc tường và đối mặt với nguy cơ chìm trong khủng hoảng nợ  - Ảnh 2.

Sự khác biệt đặc biệt lớn nằm ở những quốc gia đã chìm sâu trong nợ. Chẳng hạn, ở Bờ Biển Ngà, mức nợ cao hơn 4 tỷ USD so với suy đoán ban đầu. Sự chênh lệch ở Angola là 14 tỷ USD và Venezuela là 33 tỷ USD. Bởi chính phủ Bắc Kinh có xu hướng tính lãi suất cao, nhiều nước đang phát triển và mới nổi đều phải chịu “nghĩa vụ trả nợ gia tăng hàng năm”. Điều đó có nghĩa là các khoản thanh toán lãi suất của họ cứ tiếp tục tăng, và nguy cơ rơi vào cảnh vỡ nợ ngày càng cao. 

Nhóm tác giả lưu ý rằng tình trạng này gợi nhớ đến thời điểm cuối những năm 1970, khi các ngân hàng lớn từ Mỹ, châu Âu, Nhật Bản cung cấp khoản vay hàng tỷ USD cho những nước Mỹ Latinh và châu Phi vốn có nhiều hàng hoá. Những khoản nợ này đã “lọt” qua mắt của các cơ quan giám sát quốc tế. Khi giá thành của nhiều nguyên liệu thô sụt giảm, những quốc gia như Mexico không còn khả năng thanh toán những khoản nợ và hầu hết các nước đang phát triển đều rơi vào một cuộc khủng hoảng nợ.

Giờ đây, cục diện hầu như không có gì khác biệt. Một lần nữa, nhiều nước phát triển đã chấp nhận những khoản đi vay khổng lồ. Và một khi dòng tiền từ Trung Quốc được đưa vào, khoản nợ mà các quốc gia đang chịu lại cao như những năm 1980. Đã có những dấu hiệu đầu tiên cho thấy cuộc khủng hoảng đang đến gần. Pakistan gần đây đã phải nộp đơn “cầu cứu” IMF bởi họ không thể thanh toán khoản nợ khổng lồ từ Trung Quốc. Tại Sierra Leone, chính phủ đã dừng việc xây dựng một sân bay mà Trung Quốc dự định tài trợ. 

Mọi thứ sáng tỏ hơn 

Trong khi số liệu thống kê chính thức của chính phủ Trung Quốc thường chỉ đưa ra tổng số khoản vay nhỏ, thì con số thực lại cao hơn nhiều. Chẳng hạn, quốc gia nhỏ Djibouti đang gánh một khoản nợ từ Trung Quốc tương đương 70% sản lượng kinh tế hàng năm, còn Congo là 30% và Kenya là 15%. Con số này lớn hơn nhiều so với khoản nợ từ các nước phương Tây. Nhóm nghiên cứu gọi đây là chủ nghĩa thực dân kiểu “made in China.”

Trebesch cho hay: “Rất nhiều các dự án của Trung Quốc đã mang lại lợi ích cho các quốc gia tiếp nhận.” Sau cùng, nhiều quốc gia ở châu Phi cũng rất cần cơ sở hạ tầng hiện đại.

Hơn nữa, một số nghiên cứu gần đây từ Mỹ đã cho thấy mọi thứ cũng ít đáng báo động hơn. Kinh tế gia Deborah Bräutigam đến từ Đại học Johns Hopkins chỉ ra rằng trong số 17 quốc gia châu Phi bị mắc kẹt trong một cuộc khủng hoảng nợ, thì chỉ 3 trong số đó nhận những khoản vay từ Bắc Kinh. Các nhà phân tích từ Rhodium Group thì lập luận rằng Trung Quốc gần như không “nặng tay” như nhiều người nghĩ. Khi xem xét 40 dự án của Bắc Kinh, họ thấy rằng chính phủ Trung Quốc sẵn sàng nhượng bộ về thời gian đáo hạn nếu cần thiết. 

Dẫu vậy, tần suất của sự nhượng bộ như vậy dường như chỉ ra những điều kiện ban đầu do Trung Quốc áp đặt là quá nghiêm ngặt. Và tình hình khác xa với việc tuân thủ các tiêu chuẩn minh bạch quốc tế về quy mô của các khoản vay được Bắc Kinh thực hiện cùng các điều kiện đi kèm.

Trên thực tế, đó là sự tiến bộ mà Trebesch muốn thấy, cụ thể là Trung Quốc cuối cùng đã minh bạch hơn về các hoạt động tài chính của họ ở những nước đang phát triển. Thứ nhất, bởi hậu quả về kinh tế và chính trị của các khoản vay có thể hiện ra rõ ràng hơn. Thứ hai, bởi nó có thể giúp ngăn chặn sự bùng nổ của một cuộc khủng hoảng nợ mới ở những nước đang phát triển. Suy cho cùng, Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp nếu điều đó xảy ra.